vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T xin ly hôn với ông T1; con chung, tài sản chung, nợ chung: không có."
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-02-2023
“V/v tranh chấp về hôn nhân và
gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Hoàng;

2. Ông Nguyễn Lâm Tới.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị An, Thư ký Toà án nhân dân huyện

Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Neàng Sa Men - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 278/2022/TLST-

HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình,

ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HN ngày

01/02/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày

17/02/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khóm V,

phường N, thành phố C, tỉnh A;

Bị đơn: Ông Lê Tấn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 9, ấp P, xã A,

huyện T, tỉnh A;

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn

ông Lê Tấn T1 vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn T1 chung sống với nhau từ năm 2014, có

đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 37/2014 ngày 05/4/2014 tại Uỷ

ban nhân dân xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, ông Trung ngoại tình sau đó bỏ nhà ra đi. Bà Trọng không còn chung sống với ông Trung từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được bà Trọng yêu cầu ly hôn với ông Trung.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn T1 không có con

chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà: Bị đơn ông Lê Tấn

T1 đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt, không đến Tòa án nên Tòa án không tiến hành được việc mở phiên họp kiểm tra tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký

phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ

quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Trọng và ông Trung có đăng ký kết hôn

nên được xem là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không còn chung sống từ năm 2020 đến nay, nhưng cả hai không tạo cho nhau điều kiện để đoàn tụ gia đình, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng. Vì vậy, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần xem xét giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Bà Trọng và ông Trung không có con chung nên không đề

cập xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

đề cập xem xét.

Về nợ chung: Không có nên không đề cập xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51,

Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn

với bị đơn ông Lê Tấn T1; bị đơn có địa chỉ cư trú tại tổ 9, ấp P, xã A, huyện T,

tỉnh A. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều

28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu

cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Tấn T1 vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai

không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy

định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự

nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2014 ngày 08/5/2014 của Ủy ban nhân

dân xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp

pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,

giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có

thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia

các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Xét vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau,

nhưng trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan

điểm, thường xuyên cãi vã. Đến năm 2020, bà Trọng và ông Trung không còn

chung sống cho đến nay. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận theo

quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn T1 không có con chung nên

Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội

đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

- Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly

hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định.

Bị đơn ông Lê Tấn T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 51, Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T;

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Lê Tấn T1.

[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Tấn T1 không có con

chung.

[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng

án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0008793 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tịnh Biên. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí.

Ông Lê Tấn T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

[6] Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2014 ngày 08/5/2014 của Ủy ban nhân

dân xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[7] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản

án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ