vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K.

gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H - Đoàn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10/01/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Bà Lê Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân

huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 415/2022/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H; Sinh năm: 1998 (có đơn xin

xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: phường 1, thành phố C, tỉnh Cà Mau;

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn K; Sinh năm: 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: Xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn K tự nguyện chung sống với nhau và có

đăng ký kết hôn tại UBND phường 1, thành phố C vào ngày 01/8/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đoàn Ngọc Trúc - sinh ngày 05/11/2016

hiện đang sống với anh K. Khi ly hôn chị H tự nguyện giao con chung cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Do điều kiện đi làm xa nên chị H yêu cầu xét xử vắng mặt chị cho đến khi kết

thúc vụ án.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của vụ án và triệu tập hợp lệ để xét xử

sơ thẩm đến lần thứ hai đối với anh Đoàn Văn K nhưng anh K không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Trịnh Thị

Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Đoàn Văn K. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh K có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ để xét xử sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K tự

nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường 1, thành phố C vào ngày 01/8/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai bên cha mẹ có hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã ly thân khoảng 03 năm nay. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đoàn Văn K vẫn vắng mặt là không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H được ly hôn với anh Đoàn Văn K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đoàn Ngọc Trúc - sinh ngày

05/11/2016 hiện đang ở với anh K. Khi ly hôn chị H tự nguyện giao con chung cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Trúc đang sống ổn định với anh K, chị H cũng tự nguyện giao con chung cho anh K nên cần giao cháu Trúc cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, do anh K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con

chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có nợ nên Hội đồng xét

xử không xem xét là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định tại

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị H đã dự nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị

theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị

Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K.

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và

gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H về việc ly

hôn với anh Đoàn Văn K.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H được ly hôn với anh Đoàn Văn K.

Về con chung: Giao cháu Đoàn Ngọc Trúc - sinh ngày 05/11/2016 cho anh K

được tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con

chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng.

Ngày 28/10/2022 chị H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003105 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

3. Chị Nguyễn Trịnh Thị Ngọc H và anh Đoàn Văn K có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ