- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ H- C"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH PHÚ T Bản án số: 06/2023/HNGĐ – ST Ngày: 15 tháng 3 năm 2023 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN S TỈNH PHÚ T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Đức Nghị
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Chí – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2022/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1981 (Có mặt);
2. Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1983 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Đều ĐKNKTT: Khu , xã Tân P, huyện Tân S, tỉnh Phú T;
Chỗ ở hiện nay: Đều ở khu , xã Tân P, huyện Tân S, tỉnh Phú T;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2022, bản tự khai, biên bản hoà giải ngày 22 tháng 12 năm 2022 và biên bản hòa giải ngày 10/02/2023 tại Toà án. Nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2001, chị và anh Hà Văn C được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương, sau đó, hai bên chung sống với nhau tại khu , xã Tân P, huyện Thanh S (Nay là huyện Tân S), tỉnh Phú T
Kể từ thời điểm chung sống với nhau, chị H và anh C chưa tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền nào. Đến cuối năm 2019, hai bên đã sống ly thân, kể từ đó đến nay, anh, chị không, quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Vì vậy, chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Văn C.
Về con chung: Quá trình chung sống chị H với anh C có ba con chung là cháu Hà Linh C, sinh ngày 25/10/2002, cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013. Hiện nay cháu Hà Linh C đã thành niên chị không đề nghị Toà án giải quyết. Còn hai cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013 hai cháu hiện đang ở với anh C thì giao cho anh C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên và chị không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C cho hai cháu.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]Phía Bị đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Anh C xác nhận, việc thời gian chung sống, thời điểm ly thân, mâu thuẫn giữa hai bên như chị H trình bày là đúng. Anh đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị H.
Về con chung: Xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên, tuổi các cháu như chị H trình bày là đúng. Anh đồng ý với việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung như quan điểm của chị H sau khi vợ chồng ly hôn.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Quan điểm của các con chung (từ 7 tuổi trở lên): Cháu Hà Linh C đã thành niên nên chị H và anh C không đề nghị Toà án giải quyết, còn cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013 tại Bản tự khai và đơn trình bày nguyện vọng của hai cháu ngày 22/12/2022 tại Tòa án, cháu T và cháu H xin được ở với anh C khi chị H và anh C ly hôn.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị H và anh C chung sống như vợ chồng với nhau kể từ năm 2001. Trong quá trình chung sống anh, chị không đăng ký kết hôn tại UBND xã nào, cuộc sống chung của vợ chồng anh C chị H không hòa thuận, hạnh phúc, nay chưa có giấy đăng ký kết hôn. Hai bên đã ly thân từ năm 2019 đến nay, chị H có nguyện vọng yêu cầu Tòa án không công nhận chị và anh C là vợ chồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 57 Luật hôn nhân gia đình, không công nhận chị H và anh C là vợ chồng. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013 cho anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Chị Lò Thị H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Hà Văn C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân S, tỉnh Phú T.
. Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2001, anh Hà Văn C và chị Lò Thị H được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục chung, nhưng hai bên không đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 9 của của Luật Hôn nhân và gia đình số: 22/2000/QH10 ngày 09/6/2000. Kể từ thời điểm chung sống như vợ chồng đến nay, anh C, chị H chưa đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã nơi anh hoặc chị đăng ký nhân khẩu thường trú. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình thì “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Như vậy, căn cứ vào quy định được viện dẫn nêu trên, đối chiếu với sự kiện pháp lý phát sinh giữa chị H và anh C thì quan hệ hôn nhân giữa anh, chị chưa được pháp luật thừa nhận. Mặt khác, trong quá trình chung sống như vợ chồng, hai bên có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Anh, chị đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa.
Xét thấy, chị H và anh C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 mà không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định, đến nay anh chị cũng chưa đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn. Do đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ giữa chị H và anh C không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh C, cần chấp nhận yêu cầu của chị H và giai quyết không công nhận chị H và anh C là vợ chồng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình.
. Về con chung: Quá trình chung sống, anh, chị có 03 (Ba) con chung là các cháu: Hà Linh C, sinh ngày 25/10/2002; Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013. Khi ly hôn, hiện nay cháu Hà Linh C đã thành niên chị H và anh C không đề nghị Toà án giải quyết. Còn hai cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013 hai cháu hiện đang ở với anh C thì giao cho anh C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên và chị H không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C cho hai cháu.
Xét thấy, cháu C đã thành niên và đã lao động tự lực được, nên chị H, anh C không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc nuôi dưỡng cháu là phù hợp.
Đối với cháu Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013, hiện đang ở cùng anh C và hai cháu có nguyện vọng được ở cùng Bố, chị H không có ý kiến gì. Vì vậy, cần giao cháu T và cháu H cho anh C là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C do anh Cô tự nguyện không yêu cầu.
Khi chị H, anh C có yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Nguyên đơn, Bị đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Khi chị H, anh C có yêu cầu giải quyết về chia tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức của vợ chồng thì anh chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ việc khác.
. Về án phí: Chị H là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H và anh Hà Văn C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân S, tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lò Thị H và anh Hà Văn C là vợ chồng. 2. Về con chung: Giao cho anh Hà Văn C là người được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu. Hà Thị Cẩm T, sinh ngày 27/6/2007 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 01/02/2013 đến khi thành niên. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C vì anh C không yêu cầu. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. 3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này. 4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lò Thị H phải nộp 300.000 VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo Biên lai số AA/2020/0007494 ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân S. Nay được chuyển thành án phí ly hôn sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án. Anh Hà Văn C được quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong hạn 15 ( Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được cấp tống đạt hợp lệ để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Phú T xét xử phúc thẩm. 6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nghị Hà Đức Trưởng
Đinh Văn Côn