- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ch ly hôn anh Huỳnh Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 01 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Phước
2. Ông Đặng Văn Chiểu
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ch, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp V, xã Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp Bình Hổ A, xã V, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Ch trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh C có tổ chức đám cưới và tự nguyện sống chung từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/7/2017. Chị và anh C đã ly thân từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống chung không hợp nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 người con chung là Huỳnh Trọng N, sinh ngày 30/9/2015, hiện đang sống chung với anh C. Khi ly hôn chị yêu cầu giao con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Huỳnh Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh trình bày thống nhất với lời khai của chị Ch về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và ly thân. Nay chị Ch yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Ch có một người con chung như chị Ch trình bày là đúng. Anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị Ch được ly hôn với anh C.
+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Trọng N, sinh ngày 30/9/2015 cho anh C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Ch có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị Ch phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Ch khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C, anh C đang cư trú trên địa bàn huyện Phước Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh C đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh C là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Ch và anh C tự nguyện sống chung từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên hôn nhân giữa chị Ch và anh C là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị Ch và anh C đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị Ch và anh C không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, nay chị Ch yêu cầu ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị Ch và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ch, cho chị Ch được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị Ch và anh C thống nhất có một người con chung là Huỳnh Trọng N, sinh ngày 30/9/2015, hiện đang sống chung với anh C. Anh C đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên chị Ch yêu cầu giao con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng và anh C đồng ý. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ch, giao cháu Huỳnh Trọng N, sinh ngày 30/9/2015 cho anh C được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh C không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ch ly hôn anh Huỳnh Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trọng N, sinh ngày 30/9/2015 cho anh Huỳnh Văn C được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Trần Thị Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị Ch đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005475 ngày 01/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí. Anh Huỳnh Văn C không phải chịu án phí.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phước Long; - Chi cục THADS huyện Phước Long; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Ly |