vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ksor H’Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H’Th được ly hôn với anh Rcom Th. Về con chung: Giao 02 con chung là: Ksor H’Th, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2013 và Ksor Th, sinh 05 tháng 01 năm 2018 cho chị Ksor H’Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ksor H’Th - Rcom Th."
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ksor H’Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2023
“Về việc ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- - - - - - -

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN - TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Thới

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Et và bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 139/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023, giữa:

-Nguyên đơn: Chị Ksor H’Th, sinh năm 1993

Trú tại: Buôn M, xã IH, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Bị đơn: Anh Rcom Th, sinh năm 1986

Địa chỉ: Buôn M, xã IH, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ksor H’Th trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi và anh Rcom Th quen biết và tìm hiểu nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã IH, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp nhau, hay xảy ra mâu thuẫn xích mích với nhau, tháng 4 năm 2018 chúng tôi đã ly thân theo phong tục người dân tộc Jrai và sống ly thân cho đến nay. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Rcom Th.

- Về con chung: Có 02 con chung tên là: Ksor H’Th, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2013, và Ksor Th, sinh 05 tháng 01 năm 2018, từ khi chúng tôi sống ly thân cả 02 con đều ở với tôi đến nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Thái cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Rcom Th:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà anh Rcom Th không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H’Th. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Rcom Th vẫn không tham gia.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Ksor H’Th được ly hôn với anh Rcom Th. Giao cả 02 con chung chưa thành niên cho chị Ksor H’Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn cư trú tại xã IH, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn anh Rcom Th vẫn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tại phiên tòa anh Rcom Th vẫn vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Chị Ksor H’Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H’Th và anh Rcom Th có tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã IH, huyện Phú Thiện nên quan hệ hôn nhân giữa chị Ksor H’Th và anh Rcom Th là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H’Thúy và anh Thái thường xuyên mâu thuẫn nhau, nguyên nhân phát sinh do bất đồng quan điểm, trong tình cảm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng. Chị Ksor H’Th và anh Rcom Th đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa nên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ksor H’Th và anh Rcom Th là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Ksor H’Th xin được ly hôn với anh Rcom Th.

Về con chung: Có 02 con chung tên là: Ksor H’Th, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2013, và Ksor Th, sinh 05 tháng 01 năm 2018. Từ khi chị H’Thúy và anh Thái sống ly thân cả hai con chung đã ở với chị Ksor H’Th, nguyện vọng của cháu Ksor H’Th cũng muốn được ở với chị Ksor H’Th. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của con chung cần thiết giao 02 con chung chưa thành niên cho chị Ksor H’Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng. Chị Ksor H’Th phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ksor H’Th.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H’Th được ly hôn với anh Rcom Th.

2.Về con chung: Giao 02 con chung là: Ksor H’Th, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2013 và Ksor Th, sinh 05 tháng 01 năm 2018 cho chị Ksor H’Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và áp dụng việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh Rcom Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.

Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về án phí: Chị Ksor H’Th phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008021 ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Chị Ksor H’Th đã nộp xong.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ