- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu- Nguyễn Tất V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023 /HNGĐ-ST Ngày: 15- 5-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Hải Nam và bà Mai Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Hôm nay, ngày 15 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 13/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST- HNGĐ ngày 24/4/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ: Phòng 310, tầng 3, nhà C khu chung cư phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tất V, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 08/02/2023, bản tự khai ngày 14/3/2023 nguyên đơn chị Lê Thị T đều trình bày: Chị và anh Nguyễn Tất V tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 14/10/2016.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không phù hợp, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải vả lẫn nhau. Vì vậy chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sống từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Hiện tại, chị T xét thấy tình cảm giữa chị và anh V đã hết nên chị yêu cầu được ly hôn anh V.
Về con chung: Chị T trình bày chị và anh V có 01 con chung là Nguyễn Lê Thiên P, sinh ngày 08/01/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân con vẫn với anh V, nên chị T có nguyện vọng giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh V mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung: Không có, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 25/3/2023 chị Lê Thị T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, trong đơn chị T trình bày: Về tình cảm chị xin được ly hôn anh V; về con chung: Chị và anh V có 01 con chung là Nguyễn Lê Thiên P, sinh ngày 08/01/2017, ly hôn chị T có nguyện vọng giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh V mỗi tháng 1.500.000 đồng; về tài sản chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Tất V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ.
Theo xác nhận của Công an xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình do chị Lê Thị T cung cấp xác nhận: Anh Nguyễn Tất V, sinh năm 1982; nơi đăng ký HKTT tại xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay anh Nguyễn Tất Vương đang làm ăn sinh sống, có mặt tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Lê Thị T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Tất V đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Tất V đăng ký kết hôn ngày 14/10/2016 tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không phù hợp, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải vả lẫn nhau. Chị T và anh V sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Anh V đã được Tòa án thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, kể cả phiên tòa lần thứ hai cũng được tống đạt hợp lệ, anh V đã ký nhận văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt, nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do.
Qua xác nhận của Công an xã S: Anh Nguyễn Tất V, sinh năm 1982; nơi đăng ký HKTT tại xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, hiện nay anh Nguyễn Tất V đang làm ăn sinh sống, có mặt tại địa phương. Song sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt trực tiếp cho anh V mà anh vẫn vắng mặt, qua đó chứng tỏ anh V không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Chị T thì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu xin được ly hôn anh V. Xét thấy, tình cảm vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Xét chị T, anh Vg có 01 con chung là Nguyễn Lê Thiên P, sinh ngày 08/01/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân con vẫn ở với anh V, trong quá trình giải quyết vụ án và tại Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, chị T có nguyện vọng giao con cho anh V nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con cùng với anh V mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi vợ chồng sống ly thân con Nguyễn Lê Thiên P vẫn ở với anh V, nên cần chấp nhận theo yêu cầu của chị T, giao con Nguyễn Lê Thiên P cho anh V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh V mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không có, chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T;
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Tvà anh Nguyễn Tất V được ly hôn nhau.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Lê Thiên P, sinh ngày 08/01/2017 cho anh V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Lê Thị T cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Lê Thiên P mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) thời gian kể từ tháng 5/2023 cho đến khi con chung Nguyễn Lê Thiên P đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tiền án phí chị T phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0004584 ngày 13/02/2023.
Chị Lê Thị T phải tiếp tục nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND huyện Lệ Thủy;
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Chi cục THA huyện Lệ Thủy;
(Đã ký)
- UBND xã S (để biết);
- Lưu HS; Lưu VP
Nguyễn Thị Thu Hương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lệ Thủy; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THA huyện Lệ Thủy; - UBND xã An Thủy (để biết); - Lưu HS; Lưu VP | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |