vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Bích P, xử cho chị Ngô Thị Bích P và anh Đặng Quốc C được ly hôn.

Về con chung: giao con là Đặng Quốc K, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Ngô Thị Bích P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đặng Quốc C không phải cấp dưỡng nuôi con. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Ngô Thị Bích P và bị đơn anh Đặng Quốc C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Bích P, xử cho chị Ngô Thị Bích P và anh Đặng Quốc C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/01/2023
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà

Ông Nguyễn Thanh Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 489/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Ngô Thị Bích P, sinh năm: 2001.

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: anh Đặng Quốc C, sinh năm: 1996.

Địa chỉ: thôn x, xã M, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

(chị P có mặt, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Ngô Thị Bích P trình bày: chị và anh C chung sống với nhau từ năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 25/4/2019. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường hay cãi nhau và do anh C còn ham chơi, không chịu làm ăn, lo kinh tế cho gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Do mâu thuẫn vợ chồng kéo dài mà không tìm được biện pháp để cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Vì vậy, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C. Về con chung chị P xác định vợ chồng có một con chung là Đặng Quốc K, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn chị P đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị P xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ngoài ra, chị P không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Đặng Quốc C trình bày: năm 2017 anh và chị P về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 25/4/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để cải thiện tình cảm nhưng không được và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2021 đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Việc chị P làm đơn xin ly hôn thì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng cải thiện nên anh đồng ý ly hôn. Về con chung, anh C xác định có một cháu như chị P đã trình bày, khi ly hôn anh C đề nghị giao con chung cho chị P nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, anh C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C vắng mặt, còn chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Ngày 20/12/2022 anh C có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Bích P. Về con chung: giao con là Đặng Quốc K, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Ngô Thị Bích P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Đặng Quốc C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc chị Ngô Thị Bích P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Đặng Quốc C có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: chị P và anh C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, sau một thời gian chung sống đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 25/4/2019. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị P làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, chị P và anh C về chung sống với nhau khi chị P chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng sau một thời gian chung sống đến khi đủ điều kiện kết hôn thì chị P và anh C đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, huyện Lâm Hà nên quan hệ hôn nhân của anh chị được công nhận kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng kết hôn khi còn quá trẻ không có công việc làm ổn định, lại thiếu sự thông cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống gia đình nên thường xuyên bất hòa. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên từ tháng 10 năm 2021 đến nay hai vợ chồng sống ly thân không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị P và anh C đã trầm trọng kéo dài không còn khả năng cải thiện do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị P, xử cho chị Ngô Thị Bích P và anh Đặng Quốc C được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: chị P và anh C có một con chung là Đặng Quốc K, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn chị P đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu Khang còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nhiều hơn và từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu Khang vẫn do chị P chăm sóc nuôi dưỡng. Anh C vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi đến Tòa án thì anh C cũng đồng ý giao cháu Khang cho chị P nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định cho cháu Khang, căn cứ khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con là Đặng Quốc K cho chị P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị P và anh C đều xác định không có tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung và có yêu cầu khởi kiện thì sẽ xem xét bằng một vụ kiện dân sự khác

Về án phí: Buộc chị Ngô Thị Bích P phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Bích P, xử cho chị Ngô Thị Bích P và anh Đặng Quốc C được ly hôn.

2. Về con chung: giao con là Đặng Quốc K, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Ngô Thị Bích P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đặng Quốc C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: chị Ngô Thị Bích P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ngô Thị Bích P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010897 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị P đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Chị Ngô Thị Bích P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/01/2023). Riêng anh Đặng Quốc C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ