- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P về việc “Ly hôn”. Cho chị Lê Thị P được ly hôn anh Lê Quý N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG T NH ĐẮK ẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 17-01-2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, T NH ĐẮK ẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Míp Niê;
2. Ông Lê Đăng Huấn;
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1995; trú tại: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);
- Bị đơn: Anh Lê Quý N, sinh năm 1990; trú tại: Thôn H (nay là thôn P), xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị P trình bày: Chị P với anh N là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 04/4/2017 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2020 cho tới nay. Xét thấy tình cảm không còn nên chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Quý N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, cụ thể: cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017, con chung phát triển bình thường. Nguyện vọng sau khi ly hôn chị P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định. Tuy nhiên, bị đơn anh Lê Quý N vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
- Kết quả xác minh tại Chi hội phụ nữ thôn Lộc Phú, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk: Quá trình sinh sống tại địa phương giữa chị Lê Thị P với anh Lê Quý N có mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, lời qua tiếng lại nên dẫn đến xô xát nhau. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn do đâu thì Chi hội phụ nữ thôn P, xã L không nắm được. Đề nghị, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến ngày xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định, thủ tục mở phiên tòa đảm bảo. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai và ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến như sau: Chị P với anh N là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 04/4/2017 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Từ năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2020 cho tới nay. Do đó, có thể thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P với anh N là trầm trọng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị P với anh Lê Quý N.
Về con chung: Có 01 con chung, cụ thể: Cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017, con chung phát triển bình thường. Cháu Lê Thị Anh T đang được chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi hai vợ chồng sống ly thân cho tới nay. Do đó, cần giao cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017 cho chị Lê Thị P tiếp tục nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Anh Lê Quý N có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đạt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu ly hôn nên nguyên đơn chị Lê Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Quý N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P với anh N là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 04/4/2017 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 29/2017. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị P với anh N là hợp pháp. Vì vậy, chị Lê Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là đúng quy định của pháp luật.
Xét tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị P với anh Lê Quý N: Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được, anh N có hành vi bạo lực gia đình. Tại biên bản xác minh ngày 07/12/2022 tại Chi hội phụ nữ thôn P, xã L, huyện N xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị P với anh Lê Quý N có mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả, to tiếng trong gia đình, có hành vi bạo lực trong gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2020 cho tới nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị P với anh Lê Quý N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị P.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị Lê Thị P với anh Lê Quý N có 01 con chung: Cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017, con chung phát triển bình thường. Cháu T đang được chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi hai vợ chồng sống ly thân (tháng 06/2020) cho tới nay. Do đó, để cháu T có cuộc sống ổn định, đảm bảo việc phát triển tâm sinh lý của cháu được bình thường cần giao cháu Lê Thị Anh T cho chị Lê Thị P (mẹ) tiếp tục nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Anh Lê Quý N có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009244 ngày 29/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Lê Thị P không phải nộp thêm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P về việc “Ly hôn”. Cho chị Lê Thị P được ly hôn anh Lê Quý N.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Anh T, sinh ngày 18/5/2017 cho chị Lê Thị P (mẹ) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Anh Lê Quý N có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009244 ngày 29/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Lê Thị P không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã, phường và nơi họ cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng (02); - Chi cục THADS huyện N; - Các đương sự; - UBND xã L; - . . . . . . . . . . . . . ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trƣơng Xuân Hải |