vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng H được ly hôn chị Đỗ Thị T.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Nguyễn Thị Vân N sinh ngày 10 tháng 5 năm 2011 Nguyễn Gia H1, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2014 cho anh Nguyễn Đăng H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con anh H và chị T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng H được ly hôn chị Đỗ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17- 01- 2023
V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khúc Thị Minh

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2022/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Bị đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1989; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 30 tháng 9 năm 2022 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là anh Nguyễn Đăng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng H và chị Đỗ Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 7 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng nghi ngờ nhau về mặt tình cảm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ khoảng tháng 9 năm 2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh H và chị T không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị Đỗ Thị T.

Về con chung: Anh H khai vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Vân N sinh ngày 10 tháng 5 năm 2011 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2014. Trường hợp ly hôn anh H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh H tự thỏa thuận với chị T, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh H để tự thỏa thuận với chị T, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Đỗ Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai chị T vẫn vắng mặt tại Tòa án và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đăng H.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Đăng H và chị Đỗ Thị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đăng H được ly hôn chị T. Về con chung, giao con là Nguyễn Gia H1 và Nguyễn Thị Vân N cho anh H nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do anh H và chị T tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do anh H, chị T không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là anh Nguyễn Đăng H vắng mặt tại: phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Đỗ Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ để chị T có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc anh H có đơn xin ly hôn nhưng chị T vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn là anh Nguyễn Đăng H và bị đơn là chị Đỗ Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Đăng H và chị Đỗ Thị T được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lối sống, sinh hoạt hàng ngày và nghi kỵ lẫn nhau về mặt tình cảm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Anh H, chị T đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2020 đến nay, trong thời gian sống ly thân anh H và chị T không còn quan tâm đến nhau nữa. Kết quả xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị T phù hợp với lời khai của anh H. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T, chị T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị T đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh H xin ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh H và chị T có 02 con chung là Nguyễn Thị Vân N sinh ngày 10 tháng 5 năm và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2014. Trường hợp ly hôn anh H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Hai cháu Nguyễn Gia H1 và Nguyễn Thị Vân N đang ở cùng anh H và đều có nguyện vọng được ở cùng với anh H. Chị T vắng mặt và không có ý kiến về việc dưỡng con chung. Như vậy, cần chấp nhận đề nghị của anh H, giao cháu Nguyễn Gia H1 và cháu Nguyễn Thị Vân N cho anh H nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do anh H đề nghị để tự thỏa thuận với chị T, do vậy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị T cho đến khi anh H có yêu cầu.

Về tài sản chung: Anh H khai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết; chị T vắng mặt và chưa có lời khai về tài sản chung vợ chồng, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng H được ly hôn chị Đỗ Thị T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Thị Vân N sinh ngày 10 tháng 5 năm 2011 Nguyễn Gia H1, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2014 cho anh Nguyễn Đăng H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị Đỗ Thị T cho đến khi anh Nguyễn Đăng H có yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 0001770 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Anh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Đăng H, chị Đỗ Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ