- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thuý A - Nguyễn Quốc K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thuý A. Cho chị Lý Thuý A được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 01/02/2023 “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lại Thiện Phong
2/ Ông Danh On
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phƣơng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 294/2022/TLST–HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Thúy A, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Chổ ở hiện nay: Ấp N1, thị trấn N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thuý A trình bày:
-Về hôn nhân: Chị A và anh K có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 07/5/2019. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K không hiểu và san sẽ với chị A. Vợ chồng chị A, anh K đã ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Từ khi ly thân đến nay chị A và anh K không có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị A và anh K không có liên lạc với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay chị A nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị A xin được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị A, anh K có 01 người con chung là bé gái tên Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 14/12/2019. Khi ly hôn chị A xin được quyền nuôi con chung, không yêu cầu chồng anh K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị A không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có xuống địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cũng như làm việc với anh Nguyễn Quốc K tuy nhiên anh K không có mặt tại địa phương. Qua xác minh chính quyền địa phương thì được biết anh Nguyễn Quốc K hiện tại không có mặt tại địa phương nhưng anh K vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và anh K vẫn có đi và về địa phương nhưng không biết chính xác khi nào anh K về. Do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh K đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị A. Đồng thời Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Nguyễn Quốc K chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về hôn nhân: Cho chị Lý Thuý A được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 14/12/2019 cho chị A chăm sóc, nuôi dưỡng khi vợ chồng chị A, anh K ly hôn. Anh K có quyền tới lui thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị A không yêu cầu.
+ Về tài sản: Chị A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Lý Thuý A khởi kiện xin ly hôn và nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Quốc K. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Lý Thuý A vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị A và anh K căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
- Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thuý A và anh Nguyễn Quốc K, thấy rằng: Chị A và anh K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Hồng Dân vào ngày 07/5/2019 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị A trình bày sau khi đám cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm đầu tiên, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K không hiểu và san sẽ với chị A và vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Từ khi ly thân đến nay chị A và anh K không có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị A nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh K được nữa nên chị xin được ly hôn với anh K. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh K, tuy nhiên qua xác minh đối với ông Phạm Minh Đ là trưởng ấp N, xã N tại biên bản xác minh ngày 06/12/2022 thì được ông Đ cho biết giữa chị A và anh K khi còn sống chung tại địa phương ông Đ không biết xảy ra mâu thuẩn cụ thể như thế nào nhưng chị A, anh K đã không còn chung sống với nhau khoảng 06 tháng nay. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị A và anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thuý A, cho chị A được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
Về quan hệ con chung: Chị A xác định quá trình chung sống vợ chồng chị A, anh K có một người con chung là bé gái, tên Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 14/12/2019, hiện tại cháu Quỳnh đang sống cùng với chị A. Khi ly hôn chị A xin được quyền nuôi con chung, không yêu cầu chồng anh K cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án không ghi nhận được ý kiến của anh K đối với yêu cầu nuôi con của chị A, tuy nhiên qua xác minh ông Phạm Minh Đ là trưởng Ấp N, xã N thì được ông Đ cho biết vợ chồng chị A, anh K có với nhau một người con chung đều là con gái nhưng ông không rõ họ tên và năm sinh, hiện tại người con này đang sống cùng với chị A từ khi vợ chồng chị A, anh K ly thân đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị A và anh K ly thân đến nay hai người con chung của vợ chồng chị A, anh K sống cùng với chị A. Do đó cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh Q cho chị A nuôi dưỡng, chăm sóc khi vợ chồng chị A, anh K ly hôn là phù hợp. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị A không yêu cầu.
Về quan hệ tài sản: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc chị Lý Thuý A phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng. Anh Nguyễn Quốc K không phải chịu án phí.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thuý A. Cho chị Lý Thuý A được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
2. Về quan hệ con chung:
Tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 14/12/2019 cho chị Lý Thuý A trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi vợ chồng ly hôn.
Anh Nguyễn Quốc K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu. Anh Nguyễn Quốc K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Chị Lý Thuý A không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Lý Thuý A phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Chị A đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0006551 ngày 14/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Dân được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu (1b); - VKSND huyện Hồng Dân (2b); - CC.THADS huyện Hồng Dân (1b); - UBND TT. N (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa (2b). | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Tú Anh |