vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị N.

Về con chung, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét. Về án phí: Buộc anh Lê Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh D đã nộp theo biên lai số 0012364 ngà…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Lê Văn D và chị Bùi Thị N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-02-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đạt Thông

2. Ông Dương Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Quãng Thanh Trung, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2022/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 31/01/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1975, có mặt.

Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1982, vắng mặt không có lý do.

Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn D trình bày:

Vào năm 2001, anh và vợ tên Bùi Thị N do quen biết đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2001. Sau khi cưới nhau vợ chồng sinh sống tại ấp Long K, xã L được 07 năm rồi về sinh sống tại ấp P, xã Đ cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Lê Minh L, sinh ngày 03/4/2001 và Lê Hoàng P, sinh ngày 18/11/2003 đều đã trưởng thành. Thời gian đầu cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, cãi vả nhau, bất đồng quan điểm trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có qua lại, hỏi thăm để cùng nhau đoàn tụ. Nay tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị N.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Minh L, sinh ngày 03/4/2001 và Lê Hoàng P, sinh ngày 18/11/2003 đều đã trưởng thành; anh không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị N luôn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; chị N cũng không có lời khai.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn anh Lê Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn anh D giữ nguyên yêu cầu giải quyết về hôn nhân, nuôi con, tài sản và nợ chung.

- Bị đơn chị Bùi Thị N dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ lý hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đều tống đạt cho các đương sự đầy đủ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Lê Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị N; về con chung đều đã trưởng thành, không có tranh chấp nên không xem xét; về tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc anh Lê Văn D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các tình tiết, sự kiện đương sự đã thống nhất: Không có.

Các tình tiết, sự kiện đương sự không thống nhất:

- Nguyên đơn anh Lê Văn D yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị N; không yêu cầu giải quyết về con, cấp dưỡng, tài sản và nợ chung.

- Bị đơn chị Bùi Thị N không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Anh D khởi kiện chị N yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con, cấp dưỡng, tài sản và nợ chung. Chị N không có yêu cầu phản tố nào khác. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn. Bị đơn chị N có địa chỉ cư trú tại ấp P, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Bùi Thị N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D, chị N theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn D:

Về hôn nhân: Anh D và chị N xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2001. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh D và chị N đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của anh D và chị N là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, anh D khai nhận: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do không hợp tính nhau, cãi vả nhau, bất đồng quan điểm trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có qua lại, hỏi thăm để cùng nhau đoàn tụ.

Xét thấy gia đình là tế bào xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững. Quá trình chung sống giữa anh D và chị N chưa thống nhất với nhau về quan điểm sống, về ứng xử giao tiếp; đáng lẽ khi mâu thuẫn xảy ra anh chị phải ngồi lại tìm phương án để giải quyết mọi vấn đề bất đồng phát sinh nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, nhưng khi xảy ra mâu thuẫn anh chị bỏ mặt không quan tâm đến hạnh phúc mà anh chị đã xây dựng nhiều năm qua, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn lại với nhau, tuy nhiên chị N đều vắng mặt, anh D kiên quyết xin ly hôn.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh D và chị N ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn của anh D là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh D và chị N chung sống với nhau có 02 con đều đã trưởng thành, anh D không có tranh chấp nên không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh D phải nộp án phí hôn nhân gia đình không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị N.

2. Về con chung, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

3. Về án phí: Buộc anh Lê Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh D đã nộp theo biên lai số 0012364 ngày 11 tháng 11 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải thu.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ