- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị L ly hôn Phạm Tấn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Võ Thị L được ly hôn với ông Phạm Tấn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-01-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hà Giang.
2. Bà Đỗ Ngọc Ngân Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 165/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Tấn T - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26-10-2022, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày:
Bà và ông T tổ chức đám cưới vào tháng 8-2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 13-8-2018. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến tháng 5-2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, về quản lý kinh tế nên thường xuyên cải vã. Ly thân từ tháng 5-2022 cho đến nay.
Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Phạm Tấn T.
Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 19-11-2019, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về chia tài chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Võ Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Tấn T, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ông T được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Võ Thị L và ông Phạm Tấn T chung sống có đăng ký kết hôn ngày 13-8-2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, về quản lý kinh tế nên thường xuyên cải vã. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hiện hai vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy, qua lời trình bày của bà L nhận thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Con chung Phạm Tấn P, sinh ngày 19-11-2019 từ khi bà L và ông T sống ly thân con chung do bà L nuôi dưỡng. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ thể hiện tranh chấp quyền nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà L không cung cấp chứng cứ chứng minh nhu cầu thiết yếu của con chung, thu nhập của ông T. Vì vậy, căn cứ vào quy định pháp luật chấp nhận ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 745.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về chia tài sản chung và nợ chung: bà L trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy:
Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
Ông T có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Bà Võ Thị L được ly hôn với ông Phạm Tấn T.
2. Về nuôi con chung: Bà Võ Thị L được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Tấn P, sinh ngày 19-11-2019, hiện đang sống chung bà L. Ông Phạm Tấn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 745000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ông T được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích con chung, bà L và ông T có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong việc tính lãi chậm thi hành án.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0005398 ngày 01-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Ông T có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - CC. THADS huyện Đức Huệ; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ (để ghi sổ hộ tịch) - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Gái |