- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Truyền-Cường"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 16 - 6 - 2023 V/v: “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mùa
Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị A, sinh năm 1988 (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1984 (vắng mặt không có lý do)
Cư trú: Thôn BGP 2, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị A trình bày:
Bà Lê Thị A và ông Nguyễn Hữu B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TM, huyện Phước Long (cũ), nay là phường TM, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01 ngày 07 tháng 8 năm 2008. Trong thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi vã thường xuyên, ông B thường xuyên đi uống rượu, ngày nào cũng say xỉn rồi về nhà chửi bới và còn đánh đập bà A, bà A thấy rằng không cảm nhận được sự yêu thương, lo lắng từ ông B, gia đình và bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông B không chịu sửa đổi. Nay bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã chở lên trầm trọng nên bà A yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Hữu B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa bà A và ông B có 02 người con chung là Nguyễn Hữu C, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2009 và Nguyễn Hữu D, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2012. Sau khi ly hôn bà A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Đạt và cháu Tiến cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị A trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông Nguyễn Hữu B vẫn vắng mặt không có lý do. Và qua xem xét tại hồ sơ và các tài liệu bà A cung cấp là phù hợp với quy định pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị A.
Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hữu C, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2009 và Nguyễn Hữu D, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2012 cho bà Lê Thị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“Ly hôn” do bà Lê Thị A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Hữu B cư trú tại: Thôn BGP 2, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Hữu B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hữu B theo thủ tục chung.
Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà Lê Thị A cho thấy, bà và ông Nguyễn Hữu B tự nguyện chung sống với nhau hợp pháp và có đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TM, huyện Phước Long (cũ), nay là phường TM, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước vào ngày 07 tháng 5 năm 2008. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm, đến đầu năm 2018 vợ chồng đã không còn hạnh phúc phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông B thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập vợ con, do vậy vợ chồng thường xuyên cãi vã không hợp nhau, ông B không quan tâm đến gia đình, không chăm lo làm ăn, từ khi lấy nhau bà A không cảm nhận được sự yêu thương của chồng đối với mình và con chung của vợ chồng và cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai.
Tại phiên tòa, bà A cho rằng giữa bà và ông B đã cố gắng hòa giải bà và gia đình đã khuyên bảo ông B nhiều lần nhưng không được, ông B vẫn tiếp tục uống rượu nhiều hơn, do vậy mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, và nay bà A xác định không còn tình cảm với ông B, mặc dù, tại phiên tòa không có mặt ông B nhưng bà A vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu được ly hôn với ông B. Hội đồng xét xử nhận thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà A và ông B có 02 người con chung là Nguyễn Hữu C, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2009 và Nguyễn Hữu D, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2012. Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai của bà A có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Nguyễn Hữu C và Nguyễn Hữu D cho đến khi đủ 18 tuổi, tại biên bản lấy lời khai ngày 09 tháng 3 năm 2023 cả 02 cháu C và cháu D đều có nguyện vọng được chung sống cùng với bà A. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu và cũng như nguyện vọng của các cháu nghĩ cần thiết phải giao 02 con chung Nguyễn Hữu C và Nguyễn Hữu D cho bà Lê Thị A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Hữu B.
- Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hữu C, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2009 và Nguyễn Hữu D, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2012 cho bà Lê Thị A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006421 ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THA dân sự huyện Bù Gia Mập; - Bà A; ông B; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Văn Phú Vinh |