vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh Đặng Văn N là vợ chồng. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005 cho chị V nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con do chị V không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Nguyễn Thị V và bị đơn Đặng Văn N"
  • Tòa quyết gì? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/02/2023
V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hiền (ND)

2. Bà H Th Hoa

* Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 199/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Th V, sinh năm 1980.

Địa chỉ: 1028/57A Nguyễn Trung T, phường A, thành phố R, tỉnh K.

* B đơn: Anh Đặng Văn N, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện A, tỉnh K.

(Chị V; Anh N có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Vào năm 2004 chị chung sống như vợ chồng với anh Đặng Văn N, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, không có tiếng nói chung. Tuy vậy hai bên vẫn cố gắng nhẫn nhịn nhưng thời gian kéo dài mâu thuẫn vợ chồng ngày càng phát sinh nhiều thêm không tháo gỡ được, vợ chồng đã ly thân từ năm 2007 đến nay. Xét thấy hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên cả hai đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005. Hiện đang sống chung với chị.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh N. Yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại iên n ghi l i hai ngày 16 h ng 01 năm 2023 và c c ý iến rong qu rình gi i quyế vụ n, b đơn anh Đặng Văn N có ý iến rình ày:

Do quen biết anh và chị V tiến tới vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn do bận làm và nhà xa nên chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống không hợp nhau nên anh và chị V đã ly thân từ năm 2007 cho đến nay.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005. Hiện đang sống chung với chị V.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay chị V yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý. Anh đồng ý giao con chung cho chị V nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị V, Anh N: Có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Đặng Văn N xác định xác lập quan hệ vợ chồng năm 2004, nhưng không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh Đặng Văn N là vợ chồng. Chị V và anh N xác định có 01 con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005. Chị V và anh N xác định, thống nhất thỏa thuận khi ly hôn, tiếp tục giao con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005 cho chị V nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị V và anh N xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V và bị đơn anh Đặng Văn N có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh, chị trong vụ án này.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị V và bị đơn anh Đặng Văn N thống nhất trình bày hai anh, chị tiến đến hôn nhân vào năm 2004, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy cuộc hôn nhân anh, chị không tháo gỡ được nên yêu cầu xin ly hôn.

Căn cứ vào lời trình bày của các bên và kết quả của việc xác minh thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị V và anh N đã thật sự trầm trọng, hai bên đã cố gắng nhẫn nhịn nhưng thời gian kéo dài mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng phát sinh nhiều thêm không tháo gỡ được, anh chị đã ly thân từ năm 2007 đến nay. Nay chị V yêu cầu ly hôn với anh N, thì anh N cũng đồng ý. Do anh, chị có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, nhưng không đi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký theo quy định. Nay có tranh chấp xin ly hôn nên trường hợp này pháp luật quy định chị V và anh N không được công nhận là vợ chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và bị đơn anh Đặng Văn N xác định, thống nhất thỏa thuận khi ly hôn, tiếp tục giao con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005 cho chị V nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy việc chị V và anh N thỏa thuận tiếp tục giao con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005 cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp. Bởi lẽ từ khi chị V và anh N ly thân cho đến nay, cháu K do chị V nuôi dưỡng và theo ý kiến trình bày của cháu K có nguyện vọng được ở với chị V.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

- Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh N xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh Đặng Văn N là vợ chồng.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Đặng Minh K, sinh ngày 01/7/2005 cho chị V nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con do chị V không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh N xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001004 ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A nên được cấn trừ xem như chị V đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Nguyễn Thị V, anh Đặng Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ