- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn với người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích của anh Đinh Quang Đ đối với chị Lê Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 01 - 2023 “V/v tranh chấp ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích,” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Định.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Tuyết và bà Bùi Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: bà Phùng H Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 385/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc: “tranh chấp ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2022/QĐXXST- DS ngày 09 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2022/QĐST-DS ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Đinh Quang Đ, sinh năm: 1968
Nơi ĐKHKTT: tổ 69C, khu 6, phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).
- Bị đơn: chị Lê Thu H, sinh năm: 1977
Nơi ĐKHKTT: tổ 69C, khu 6, phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. (Hiện đang mất tích).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2022 và bản tự khai, nguyên đơn là anh Đinh Quang Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Lê Thu H có đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/2000 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Hạ Long trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 3 năm, khi đó chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vì kinh tế khó khăn, cả hai đã cùng nhau khắc phục nhưng không có kết quả. Đến năm 2012 chị H tự ý bỏ nhà đi, không về nữa, còn lại một mình anh nuôi hai con chung cho đến nay. Ngày 07/7/2022 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã tuyên bố chị Lê Thu H mất tích. Nay anh Đ có đơn đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là: Đinh Mạnh H, sinh ngày 05/9/2003 và Đinh Tuấn D, sinh ngày 09/6/2012. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết: Đối với con Đinh Mạnh H đã trưởng thành trên 18 tuổi, phát triển bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Đinh Tuấn D anh đề nghị Tòa án giao cho anh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về tài sản và công nợ chung: anh, chị không có tài sản chung, không vay nợ chung tổ chức hay cá nhân nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thu H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, Tòa án tiến hành xác minh tại địa pH, nơi anh Đ và chị H sinh sống, ông Trần Văn Hà, Khu trưởng khu 6, phường Cao Xanh, TP.Hạ Long cho biết:
Anh Đ và chị H có đăng ký kết hôn năm 2000 tại UBND phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có hộ khẩu thường trú tại tổ 69C, khu 6, phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Anh chị sinh được 02 con chung là Đinh Mạnh H, sinh ngày 05/9/2003 và Đinh Tuấn D, sinh ngày 09/6/2012. Đến cuối năm 2012 vợ chồng anh Đ, chị H xảy ra mâu thuẫn, chị H bỏ nhà đi không có tin tức gì, anh Đ đã đi tìm kiếm và đăng tin tìm kiếm chị H trên các pH tiện thông tin đại chúng, nhưng không có kết quả. Anh Đ làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tính. Đến tháng 7/2022 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã có Quyết định số 07 ngày 07/7/2022 tuyên bố chị Lê Thu H mất tích. Nay anh Đ có đơn xin ly hôn chị H tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay chị H vắng mặt nên không có quan điểm về giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, đã xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn anh Đinh Quang Đ đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chị Lê Thu H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa: anh Đinh Quang Đ vì điều kiện công việc nên có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: quan hệ hôn nhân: do chị Lê Thu H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích đến nay vẫn chưa trở về nên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống riêng của anh Đinh Quang Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ với chị H và áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 Luât hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử cho anh Đinh Quang Đ được ly hôn với chị Lê Thu H; con chung: đề nghị HĐXX giao cho anh Đ có trách nhiệm trực tiếp, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung với chị H là: Đinh Tuấn D, sinh ngày 09/6/2012 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); Tài sản chung, công nợ chung: anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện Kiểm sát không có ý kiến; về án phí: anh Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Lê Thu H bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không tiến hành hòa giải, chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Đinh Quang Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Đ.
Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Quang Đ và chị Lê Thu H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 21/01/2000, nên quan hệ vợ chồng của anh Đ và chị H là hợp pháp. Lý do anh Đ xin ly hôn vì chị H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Căn cứ quyết định số 07/2022/QĐST- VDS ngày 07/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã tuyên bố chị Lê Thu H mất tích, quyết định này đã có hiệu lực pháp luật và kể từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án đến ngày Tòa án mở phiên tòa chị H vẫn vắng mặt. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đinh Quang Đ Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Đinh Quang Đ được ly hôn với chị Lê Thu H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là: Đinh Mạnh H, sinh ngày 05/9/2003 và Đinh Tuấn D, sinh ngày 09/6/2012. Anh Đ có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con Đinh Tuấn D cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), đối với con Đinh Mạnh H đã trưởng thành trên 18 tuổi, phát triển bình thường, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét yêu cầu của anh Đ về việc xin được nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy: việc giao con cho ai nuôi dưỡng, phải căn cứ quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Theo kết quả xác minh thực tế anh Đ là bố và đang trực tiếp nuôi dưỡng các con, có công việc làm ổn định có mức thu nhập đảm bảo để chăm sóc nuôi dưỡng các con phát triển và trưởng thành toàn diện, hơn nữa chị H đã mất tích, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Trong thời gian anh Đ trực tiếp nuôi con mà chị H trở về, nếu con chưa đủ 18 tuổi, khi cần thiết vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: anh Đinh Quang Đ không yêu cầu giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
Về án phí: anh Đ phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 56 và Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích của anh Đinh Quang Đ đối với chị Lê Thu H.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Quang Đ được ly hôn với chị Lê Thu H.
3. Về con chung: Giao cho anh Đinh Quang Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Đinh Tuấn D, sinh ngày 09/6/2012 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Trong thời gian anh Đ trực tiếp nuôi con mà chị H trở về, nếu con chưa đủ 18 tuổi, khi cần thiết vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Anh Đinh Quang Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Anh Đ đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001024 ngày 05/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long.
5. Quyền kháng cáo: anh Đinh Quang Đ và chị Lê Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP.Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP.Hạ Long; - UBND phường C; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Các đương sự; - Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND TP Hạ Long; - VKSND TP Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND phường Đại Yên; - UBND phường Hà Khẩu; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Định Nguyễn Thị Định |