vanban.org

Bản án 06/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T. Buộc ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền vay còn nợ gốc 24.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Xuân T và K'Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T. Buộc ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền vay còn nợ gốc 24.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 06/2023/DS-ST.
Ngày: 13-01-2023
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hinh và ông Đào Duy Trâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà My La - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2022/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn: Ông K’Y. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 10 năm 2022 và các tài liệu chứng cứ, của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:

Ngày 08-01-2011 ông và ông K’Y chốt nợ, theo đó ông K’Y còn nợ ông số tiền vay gốc là 25.403.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1,8%/tháng. Ngày 10-01-2011 ông K’Y trả 1.200.000 đồng, trừ vào tiền nợ gốc còn 24.203.000 đồng, đến nay ông K’Y chưa trả.

Nay yêu cầu ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông số tiền vay còn nợ gốc 24.203.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất là 1,125%/tháng, tính từ ngày 10-01-2011 đến ngày 13-01-2023 là 144 tháng (chỉ tính tròn 144 tháng) là 39.208.000 đồng, tổng cộng là 63.411.000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ chứng minh: Giấy viết tay không ghi rõ ngày tháng năm.

Tại phiên tòa bị đơn ông K’Y vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông K’Y đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy lời khai của ông K’Y được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T. Buộc bị đơn ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền vay gốc và lãi theo quy định của pháp luật. Buộc các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Xuân T có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự với ông K’Y. Ông K’Y đang cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Tại phiên tòa bị đơn ông K’Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh và Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Xuân T khởi kiện ông K’Y vay tiền của ông nhưng đến nay chưa trả hết. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định giữa ông Nguyễn Xuân T và ông K’Y là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

Về nội dung tranh chấp:

Ngày 08-01-2011 ông và ông K’Y chốt nợ, theo đó ông K’Y còn nợ ông số tiền vay gốc là 25.403.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 1,8%/tháng. Ngày 10-01-2011 ông K’Y trả 1.200.000 đồng, trừ vào tiền nợ gốc còn 24.203.000 đồng, đến nay chưa trả.

Nay yêu cầu ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông số tiền vay còn nợ gốc 24.203.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất là 1,125%/tháng, tính từ ngày 10-01-2011 đến ngày 13-01-2023 là 144 tháng (chỉ tính tròn 144 tháng) là 39.208.000 đồng, tổng cộng là 63.411.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc vay tiền có viết giấy, ông K’Y ghi họ tên “K’Y” xác nhận vay tiền của ông Nguyễn Xuân T. Về tiền lãi: Giao dịch dân sự vay tài sản được thực hiện ngày 08-01-2011, hai bên thoả thuận 1,8%/tháng, tuy nhiên tại phiên tòa ông Nguyễn Xuân T yêu cầu mức lãi suất 1,125%/tháng thì thấy: Mặc dù thỏa thuận về mức lãi suất vay của ông Nguyễn Xuân T và ông K’Y là tự nguyện nhưng mức lãi suất vượt quá quy định của Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005, tại phiên tòa ông Nguyễn Xuân T yêu cầu mức lãi 1.125%/tháng là phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông K’Y đều đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, điều này cho thấy bị đơn tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh tại khoản 4 của Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy, ông Nguyễn Xuân T khởi kiện ông K’Y là có cơ sở, cần áp dụng Điều 471, Điều 474, Điều 476 và Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005 buộc ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền vay còn nợ gốc 24.203.000 đồng, tiền lãi là 39.208.000 đồng, tổng cộng là 63.411.000 đồng.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông K’Y phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 471, Điều 474, Điều 476 và Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T. Buộc ông K’Y có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền vay còn nợ gốc 24.203.000 đồng, tiền lãi là 39.208.000 đồng, tổng cộng là 63.411.000 đồng (Sáu mươi ba triệu bốn trăm mười một nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Buộc ông K’Y phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 3.170.000 đồng (Ba triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Ông K’Y có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ