vanban.org

Bản án 06/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phía Bắc giáp thửa ODT 114 có độ dài : 31,10m

Phía Nam giáp thửa còn lại 115 có độ dài: 30,70m Phía Tây giáp thửa ODT 114 có độ dài: 8,50m Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Phía Bắc giáp thửa ODT 114 có độ dài : 31,10m
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 06/2023/DSST
Ngày: 22-3-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2022/TLST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Viết tắt là S)

Địa chỉ: Số x đường N, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc; Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Phạm Ngọc V – Chuyên viên quản lý nợ thuộc phòng Kiểm sát rủi ro Chi nhánh Ngân hàng tại Ninh Thuận - Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn H – Sinh năm: 1997; địa chỉ: thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 10-10-2022 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20-10-2020, Ngân hàng S ký kết hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn H dưới hình thức cấp thẻ tín dụng có hạn mức là 20.000.000 đồng, lãi suất là 31,2%/năm. Hợp đồng được thực hiện theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 20-10-2020. Việc sử dụng thẻ tín dụng được thực hiện theo “Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S”, có hiệu lực từ ngày 29/11/2019. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng từ ngày 22/11/2020 đến ngày 22/7/2021 ông H đã thực hiện nhiều lần giao dịch với tổng số tiền là 20.820.900 đồng; Trong các lần thực hiện giao dịch từ thẻ tín dụng, ông H đã thanh toán vào thẻ là 7.044.134 đồng. Từ ngày 22/11/2021 Ngân hàng S đã chấm dứt việc sử dụng thẻ tín dụng với ông H và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn do ông H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ông H còn nợ chưa thanh toán cho Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc là 22.595.941đồng, tiền lãi quá hạn là: 14.246.875 đồng.

Nhiều lần Ngân hàng yêu cầu ông H phải thanh toán nH ông H không trả nợ. Do đó, đề nghị Tòa án buộc ông H phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: gốc 22.595.941đồng, tiền lãi quá hạn: 14.246.875 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, buộc ông H phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp theo mục 1.24 tại Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc.

5. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung vụ án:

Áp dụng: khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc là: 22.595.941 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/3/2023 ) là 14.246.875 đồng;

Từ ngày 23-3-2023 buộc ông Nguyễn Văn H tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng.

Buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Thủ tục tố tụng:

. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét xử vắng mặt đương sự: bị đơn ông Nguyễn Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Nội dung giải quyết vụ án theo khởi kiện của Nguyên đơn:

. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định được: Ngày 20-10-2020, Ngân hàng S đã cấp Thẻ tín dụng số 242074-2701 cho chủ sử dụng thẻ là ông Nguyễn Văn H, hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng. Việc cấp Thẻ tín dụng thực hiện theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” lập ngày 20-10-2020 của ông Nguyễn Văn H, được Ngân hàng phê duyệt ngày 23-10-2020 và “Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S”, có hiệu lực từ ngày 29/11/2019.

[2.2]. Xét đây là trường hợp thực hiện hợp đồng tín dụng được Ngân hàng cho cá nhân vay dưới hình thức cấp Thẻ tín dụng để tiêu dùng cá nhân. Do đó thỏa thuận giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn H phải tuân thủ quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch vay tài sản và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

. Xét thỏa thuận giữa ông Nguyễn Văn H và Ngân hàng TMCP S, theo đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo Bản điều khoản và Điều kiện phát sinh sử dụng thẻ của Ngân hàng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng, nên giao dịch này phát sinh hiệu lực pháp luật đối với các bên.

. Việc ông Nguyễn Văn H sử dụng thẻ tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát sinh sử dụng thẻ của Ngân hàng nên ngày 22-11-2021 Ngân hàng TMCP S chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng số: 242074-2701 đối với ông Nguyễn Văn H và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn là thực hiện đúng quy định theo sự thỏa thuận giữa các bên.

.Tại phiên tòa, Ngân hàng S đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng minh tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22-3-2023), ông Nguyễn Văn H còn nợ tiền gốc chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 22.595491đồng; nợ tiền lãi quá hạn chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 14. 246.875 đồng, do đó Ngân hàng kiện ông Nguyễn Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi là có căn cứ chấp nhận.

. Về án phí sơ thẩm:

Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho Nguyên đơn đơn số tiền tạm ứng án phí 564.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002730 ngày 14-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Ông Nguyễn Văn H phải chịu (22.595941 đồng + 14.246.875 đồng) x 5% = 1.842.000 đồng (đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.

. Quan điểm của Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử lý tiền chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

+ Các điều: 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

+ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

+ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

1. Buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc là: 22.595.941 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi mốt đồng); tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/3/2023) là 14.246.875 đồng (mười bốn triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng);

2. Từ ngày 23-3-2023 buộc ông Nguyễn Văn H tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

3. Về án phí:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 564.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002730 ngày 14-10-2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện N, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Ông Nguyễn Văn H phải chịu 1.842.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/3/2023); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện N;

- Các đương sự;

- CCTHADS huyện N;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Trần Văn Tùng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện N;

- Các đương sự;

- CCTHADS huyện N;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Trần Văn Tùng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn A và bà Hà Thùy L yêu cầu ông Đặng Công T và bà Phạm Thị M thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 253m2. Căn cứ vào Khoản 3, Điều 26, Điểm a, Khoản 1, Điều 35 BLTTDS tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện và do ông Đặng Công T, bà Phạm Thị M hiện nay đang cư trú tại phường Đ, thị xã Đ nên vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. [2] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ giấy nhận tiền do ông T và bà M xác lập vào ngày 01/10/1995 thể hiện: Ông T và bà M đồng ý chuyển nhượng lô đất vườn cho ông A và bà L có chiều ngang 10m, chiều sâu 50m với giá 40.000.000đ, việc chuyển nhượng đất chỉ viết giấy nhận tiền, không có công chứng, chứng thực theo quy định. Sau khi thực hiện việc chuyển nhượng, hộ ông A đã giao đủ tiền và hộ ông T đã giao đất, ông A nhận đất sử dụng từ cuối năm 1995 đến nay, thửa đất đã hình thành khuôn viên, có ranh giớiổn định, không ai tranh chấp, nH hộ ông A chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đến năm 2010 phần đất nhận chuyển nhượng của hộ ông A nằm trong diện giải tỏa để mở rộng tuyến đường 607A. Sau khi trừ diện tích bị thu hồi để mở đường, thì phần đất nhận chuyển nhượng hiện nay của hộ ông A còn lại diện tích 253m2. Tại phiên Tòa ông T, ông A chấp nhận diện tích chuyển nhượng 253m2 và ông T đồng ý ký hồ sơ chuyển nhượng QSD đất cho ông A đối với diện tích 253m2. Do đó HĐXX xác định việc vợ chồng ông T đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông A phần đất diện tích 253m2 là có căn cứ. [3] Điều kiện thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Hộ ông T được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 09/5/1998, thửa đất số 115, diện tích 796m2, mục đích sử dụng: Thổ cư, tuy nhiên hộ ông T chưa đăng ký biến động quyền sử dụng đất nhằm xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao gắn liền với nhà ở theo Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ nên chưa đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định diện tích đất ở đối với thửa đất số 115 của hộ ông T. Đến ngày 10/7/2017 Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Điện Bàn cung cấp thông tin tại Công văn số: 85/TNMT như sau: Đối với thửa đất số 115, diện tích 796m2 của hộ ông T được công nhận diện tích 200m2 đất ở, hộ ông T đã bị thu hồi diện tích 116,8m2, loại đất ở tại Quyết định số: 3357/QĐ-UBND, ngày 03/11/2010 của UBND huyện Điện Bàn (nay là thị xã), do đó diện tích còn lại 679,2m2, tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 của hộ ông T được công nhận là: 83,2m2 đất ở tại đô thị và 596m2 đất trồng cây lâu năm (vườn ao). Như vậy thửa đất số 115 của hộ T nay đã xác định được diện tích đất ở theo quy định, phần đất chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất và diện tích chuyển nhượng là 253m2 được các bên công nhận và không có tranh chấp. Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai thì phần đất diện tích 253m2 của hộ ông T đủ điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. [4] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 253m2: Giấy nhận tiền do ông T và bà M xác lập vào ngày 01/10/1995 đã thể hiện giao dịch chuyển nhượng QSD đất giữa vợ chồng ông T và vợ chồng ông A. Giao dịch chuyển nhượng QSD đất giữa vợ chồng ông A và ông T có lập thành văn bản nH văn bản đó không đúng quy định của pháp luật và không được công chứng chứng thực, tuy nhiên thực tế vợ chồng ông T đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất và vợ chồng ông A đã nhận đất sử dụng ổn định từ cuối năm 1995 đến nay, phần đất chuyển nhượng đã hình thành khuôn viên, trên đất có tài sản của hộ ông A, các bên không tranh chấp ranh giới và diện tích chuyển nhượng. Căn cứ Khoản 1, Điều 129 BLDS năm 2015 quy định: “…Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nH văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó” và tại Khoản 2, Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “ Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nH vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”. Giao dịch chuyển nhượng QSD đất giữa vợ chồng ông A và vợ chồng ông T tuy không tuân thủ quy định về hình thức nH các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ trong giao dịch đó. Căn cứ Điều 129 BLDS năm 2015 thì HĐXX công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 253m2 giữa ông A, bà L và ông T, bà M. Hiện nay thửa đất số 115 của hộ ông T được Nhà nước công nhận: 83,2m2 đất ở tại đô thị và 596m2 đất trồng cây lâu năm (vườn, ao), ông A đồng ý nhận chuyển nhượng diện tích 253m2, loại đất: Trồng cây lâu năm (vườn, ao) và chịu nghĩa vụ tài chính về đất đai liên quan đến phần đất nhận chuyển nhượng diện tích 253m2 theo quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, việc ông A, bà L khởi kiện ông T, bà M là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận và công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 01/10/1995 giữa ông A, bà L và ông T, bà M đối với diện tích 253m2, thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, loại đất: Trồng cây lâu năm (vườn, ao), địa điểm thửa đất: Khối N, phường Đ, thị xã Điện Bàn. Ông A và bà L phải có nghĩa vụ thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng diện tích 253m2, loại đất: Trồng cây lâu năm (vườn, ao), tại thửa đất số: 115, tờ bản đồ số 02 sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật. [5] Về án phí: Ông T và bà M phải chịu 200.000đ án phí DSST theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền chi phí định giá tài sản và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ông A tự nguyện chịu và không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xét. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3, Điều 26, Điềm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39 BLTTDS, Điều 129, 500 BLDS, Khoản 3, Điều 100, Điều 103, Khoản 1, Điều 188 Luật Đất đai và Khoản 1, Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Khoản 2, Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A và bà Hà Thùy L đối với ông Đặng Công T và bà Phạm Thị M về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 01/10/1995 giữa ông Nguyễn Văn A, bà Hà Thùy L và ông Đặng Công T, bà Phạm Thị M đối với diện tích 253m2, thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, loại đất: Trồng cây lâu năm (vườn, ao), địa điểm thửa đất: Khối N, phường Đ, thị xã Điện Bàn. Được xác định tứ cận như sau: (kèm theo sơ đồ)

- Phía Bắc giáp thửa ODT 114 có độ dài : 31,10m

- Phía Nam giáp thửa còn lại 115 có độ dài: 30,70m

- Phía Tây giáp thửa ODT 114 có độ dài: 8,50m

- Phía Đông giáp đường ĐT 607A có độ dài: 8,20m Ông Nguyễn Văn A và bà Hà Thùy L phải có nghĩa vụ thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng diện tích 253m2, loại đất: Trồng cây lâu năm (vườn, ao), tại thửa đất số: 115, tờ bản đồ số 02 sau khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật. Về án phí:

- Ông Đặng Công T và bà Phạm Thị M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn A 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0000455, ngày 23/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c- ưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Buộc bà Hán Thị Mỹ Lệ, Hán Thị Thu Trâm, Hán Thị Diễm Chi, Hán Thị Thúy Hằng phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Huy đối với lối đi chung có diện tích 389m2 được xác định theo các điểm (1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17 ) thuộc tờ bản đồ số 11c, tại thôn Phước Đồng 1, xã Phước Hậu, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

+ Ông Trần Văn Huy không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Trần Văn Huy số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí Tòa án, ông Huy đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0025302 ngày 14-10-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

+ Buộc bị đơn bà Hán Thị Mỹ Lệ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Hán Thị Thu Trâm, Hán Thị Thúy Hằng, Hán Thị Diễm Chi mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện N;

- Các đương sự;

- CCTHADS huyện N;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Trần Văn Tùng

1. Công nhận toàn bộ diện tích các thửa đất số số 259, 260, 261 và 898 tờ bản đồ số 13, 14 xã Phước Hữu nay là thửa đất số 2561 diện tích 2741m2 và thửa số 2562 diện tích 13909m2 (đã trừ 101m2 nằm trong thu hồi làm nhà máy điện gió Phước Hữu) thuộc tờ bản đồ địa chính số 14 xã Phước Hữu, trong đó có 120m2 là phần đất có mồ mã (05 mộ đất, 05 mộ xây gạch). Vị trí đất, mồ mã được xác định theo trích lục số 169k ngày 29-7-2020 của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh N cho bà Nguyễn Thị Kim Phụng và các anh chị em bà Phụng gồm: Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Nữ và Nguyễn Văn Tý được quyền sử dụng và có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Có trích lục thửa đất kèm theo bản án.

2. Giao tài sản trên đất gồm: Chuồng bò mái lập tôn, nền đất, trụ gỗ, diện tích 68m2, mái hiên sau rào lưới B40 trụ gỗ dài 38m và 21 cây dừa loại mới trồng, cho các ông (bà): Nguyễn Thị Kim Phụng, Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Nữ và Nguyễn Văn Tý được quyền sở hữu và buộc bà Nguyễn Thị Kim Phụng là đại diện các anh chị em trong gia đình hoàn trả giá tài sản trên đất cho bà Quảng Thị Thu Diệu số tiền: 9.168.000 đồng.

3. Buộc bà Quảng Thị Thu Diệu là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất phải giao trả lại diện tích thửa đất số 259, 260, 261 và 898 tờ bản đồ số 13, 14 xã Phước Hữu nay là thửa đất số 2561 diện tích 2741m2 và thửa số 2562 diện tích 13909m2 (đã trừ 101m2 nằm trong thu hồi làm nhà máy điện gió Phước Hữu) thuộc tờ bản đồ địa chính số 14 xã Phước Hữu, trong đó có 120m2 là phần đất có mồ mã (05 mộ đất, 05 mộ xây gạch). Vị trí đất được xác định theo trích lục số 169k ngày 29-7-2020 của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh N và các tài sản trên đất gồm: 21 cây dừa mới trồng; chuồng bò mái lập tôn, nền đất, trụ gỗ, diện tích 68m2, mái hiên sau rào lưới B40 trụ gỗ dài 38m, cho bà Nguyễn Thị Kim Phụng và các anh chị em bà Phụng gồm: Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Nữ và Nguyễn Văn Tý.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Phụng đã nộp đủ và tự nguyện chiu nên không xem xét.

5. Về án phí: Buộc bà Quảng Thị Thu Diệu phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ