vanban.org

Bản án 06/2022/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/09/2022 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ vào khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự.

Không chấp nh n kháng cáo của ông Lê V nh Th và bà Nguyễn Thị Ng c L. iữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM-ST ngày 02 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Bản án 06/2022/KDTM-PT-16-9-2022-Ngân hàng TV-Th, L- HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ vào khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/KDTM-PT
Ngày: 16-9-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
và hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Tuấn.

Các Thẩm phán:

1. Ông Trần Tuấn Vũ;

2. Bà Dương Thúy Hằng.

Thư ký phiên tòa: bà Bùi Minh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây

Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị L, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2022/TLPT-KDTM ngày 07 tháng 7 năm 2022, về việc: “tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng mua bán tài sản”

Do Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM-ST ngày 02 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2022/QĐ-PT ngày 19 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TM P Việt Nam TV; địa chỉ: 89, LH, phư ng LH, qu n Đ, Thành phố Hà N i.

Ngư i đại diện theo pháp lu t: ông Ngô hí D – hủ tịch H i đồng quản trị; v ng m t.

Ngư i đại diện theo ủy quyền: ông Đ Thành Tr – Ph iám đốc Khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ; v ng m t.

Ngư i được ủy quyền lại: ông Nguyễn ông M, sinh năm 1998 – án b xử lý nợ; địa chỉ: Phư ng 4, Q3, Thành phố Hồ hí Minh; v ng m t.

- Bị đơn: ông Lê V nh Th, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Ng c L, sinh năm 1987; c ng địa chỉ: Đư ng ĐBP, khu phố HNg, phư ng HN, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; ông Th, bà L v ng m t .

Ngư i đại diện theo ủy quyền của ông Th, bà L: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960; Địa chỉ: HTP, Khu phố 1, phư ng T TĐ, Qu n 7, Thành phố Hồ hí Minh; có m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phan Thị Ng c i, sinh năm 1972; Địa chỉ: T 10, ấp TK, x TH, huyện TC, tỉnh Tây Ninh; v ng m t;

2. Ông Phan Thái T, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp PĐ , x PhĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; v ng m t.

- Người kháng cáo: ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP iệt Nam TV và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ng Nguy n C ng M trình bày:

Ngân hàng TM P Việt Nam TV – Ngân hàng hi nhánh Thành Phố Hồ hí Minh cho ông Lê V nh Th và bà Nguyễn Thị Ng c L vay vốn, cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số: H M/15/1636/HĐTD ký ngày 19-6-2015, với số tiền vay 822.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, Biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015, do ông Lê V nh Th đứng tên; th i hạn vay: 72 tháng; l i suất: 8.99%/năm, cố định 24 tháng đầu, sau đ thay đ i 3 tháng/lần; ngày giải ngân: 19-5-2015, ngày đến hạn: 19-6-2021.

- Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là 01 chiếc xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015 do ông Lê V nh Th đứng tên.

Ngoài khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số: H M/15/1636/HĐTD ký ngày 19-6-2015, ông Lê V nh Th còn nợ ngân hàng hai khoản vay tín chấp gồm: khoản vay ngày 07-9-2016 số tiền 57.000.000 đồng và khoản vay ngày 14-4-2016 số tiền 102.000.000 đồng. Theo th a thu n, Ngân hàng được quyền thu các khoản nợ tín chấp và thế chấp của ông Th, bà L từ tài khoản thanh toán của ông bà mở tại Ngân hàng theo hệ thống tự đ ng, trích thu đối với khoản nợ nào phát sinh trước thì hệ thống sẽ thu trước. Việc th a thu n c thể hiện rõ tại các khoản 6, 7 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, vào ngày 05-4-2021 ông Th đ đ ng 175.000.927 đồng để tất toán 2 khoản vay tín chấp xong.

Đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số: H M/15/1636/HĐTD ngày 19-6-2015: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Th, bà L nhiều lần vi phạm ngh a vụ trả nợ. Phía Ngân hàng nhiều lần liên hệ yêu cầu thanh toán gốc và l i vay cho Ngân hàng nhưng ông Th, bà L v n không thực hiện. Do đ Ngân hàng đ chuyển toàn b sang nợ quá hạn đối với hợp đồng tín dụng trên, đồng th i đ tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân nhân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh để yêu cầu ông Th, bà L trả nợ và yêu cầu phát m i tài sản thế chấp thu hồi nợ.

Đối với việc ông Th, bà L đ chuyển giao tài sản cho bà Gi và bà Gi chuyển cho ông T, Ngân hàng không được biết và cũng không được thông báo về việc này.

ăn cứ theo Quyết định giám đốc thẩm số 41/2021/KDTM/ ĐT ngày 08-7-2021, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu: Trư ng hợp ông Th, bà L không trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án c thẩm quyền phát m i tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay, tài sản là: hiếc xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015, do ông Lê V nh Th đứng tên. Do ông T là ngư i đang giữ xe nên ông T phải bàn giao tài sản cho Ngân hàng để thực hiện việc yêu cầu xử lý tài sản theo quy định pháp lu t.

Về yêu cầu khởi kiện của ông Th, bà L đối với bà Gi và yêu cầu đ c l p của ông T, Ngân hàng không c ý kiến gì.

Trong quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ng Lê ĩnh Th, bà Nguy n Thị Ngọc L và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ng Nguy n ăn V trình bày:

Ngày 19-6-2015 vợ chồng ông Th, bà L thế chấp xe ô tô tải biển số đăng ký 70C-061.00 tại Ngân hàng TM P Việt Nam TV vay số tiền 822.000.000 đồng; trả g p 27 tháng và đ g p đến tháng 01/2017 thì hết khả năng g p.

Vợ chồng ông Th, bà L th a thu n chuyển giao quyền và ngh a vụ cho bà Phan Thị Ng c i, với t ng giá trị tài sản c giá trị là 750.000.000 đồng. Bà Gi c ngh a vụ thanh toán m t lần cho vợ chồng ông Th, bà L số tiền 100.000.000 đồng; số tiền còn lại 650.000.000 đồng thì hàng tháng bà Gi phải c ngh a vụ tiếp tục trả g p cho Ngân hàng bằng hợp đồng ủy quyền số 61 - Quyển số 1 ký ngày 05-01-2017 tại Văn phòng công chứng T.

Quá trình khai thác sử dụng kinh doanh xe ô tô tải biển số đăng ký 70 - 061.00, bà Gi không thực hiện đúng Hợp đồng ủy quyền, nên Ngân hàng khởi kiện bu c vợ chồng ông Th, bà L c trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng t ng c ng số tiền 592.618.832 và tiền l i theo Bản án sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 29-11-2018 của Tòa án nhân dân thành phố TN.

Do bà Gi vi phạm ngh a vụ trong Hợp đồng đ ký và đ c th của phương tiện kinh doanh v n tải sẽ bị giảm giá trị tài sản hàng năm, cũng như phải khấu hao tài sản cố định; hiện tại giá trị chiếc xe 70 -061.00 bị giảm giá trị theo th i gian nên bà Gi phải chịu trách nhiệm do vi phạm ngh a vụ.

Tại Đơn khởi kiện ngày 22-11-2021, ông Th, bà L yêu cầu bà Gi có trách nhiệm đền b cho vợ chồng ông Th, bà L t ng c ng số tiền 592.618.832 đồng và l i suất phát sinh theo l i suất Ngân hàng kể từ ngày 29-01-2018 cho đến khi vụ kiện được đưa ra xét xử. Đồng th i yêu cầu bà Gi phải c ngh a vụ giao lại chiếc xe 70C-061.00 cho ông Th, bà L, để ông Th, bà L tiếp tục bàn giao cho Ngân hàng phát m i tài sản để thu hồi công nợ và để kh c phục h u quả do bà Gi gây ra.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và yêu cầu đ c l p của ông T, ông Th, bà L không c ý kiến gì.

Đối với khoản tiền bà Gi đ trả cho Ngân hàng là bà Gi thực hiện theo th a thu n hợp đồng ủy quyền nên ông Th, bà L không đồng ý trả lại khoản tiền này và cũng không đồng ý trả khoản tiền mà bà Gi đ thanh toán cho ông Th, bà L.

Ngoài khoản tiền vay c thế chấp xe theo Hợp đồng tín dụng số: H M/15/1636/HĐTD ký ngày 19-6-2015; ông Th, bà L c nợ Ngân hàng TM P Việt Nam TV khoản vay tín chấp khác nhưng đ thanh toán xong. Từ khi ký Hợp đồng ủy quyền chuyển giao ngh a vụ cho bà Gi, đối với hợp đồng tín dụng c thế chấp xe nêu trên ông Th, bà L không còn thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào. Riêng 02 khoản vay tín chấp ông Th, bà L c trả cho Ngân hàng nhưng không nhớ số tiền và sau đ cũng đ tất toán hai khoản vay này xong. Việc bà Gi, ông T đ n p cho Ngân hàng bao nhiêu tiền thì ông Th, bà L không biết.

Trong quá trình giải quy t vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Phan Thị Ngọc Gi trình bày:

Khoảng đầu năm 2017, bà Gi và ông Th, bà L c th a thu n ông Th, bà L đồng ý bán cho bà Gi 01 chiếc xe ô tô tải biển số 70 -061.00. Do vợ chồng ông Th đang thế chấp xe này tại Ngân hàng TM P Việt Nam TV nên giữa bà và vợ chồng ông Th c ký hợp đồng ủy quyền ngày 05-01-2017, th a thu n n i dung bà Gi mua chiếc xe ô tô tải biển số 70 -061.00 từ ông Th, bà L với giá 750.000.000 đồng; bà Gi trả trước cho ông Th, bà L số tiền 100.000.000 đồng và 33.506.000 đồng. Sau đ , bà Gi sẽ c ngh a vụ tiếp tục trả nợ định k theo hợp đồng tín dụng ký giữa Ngân hàng với ông Th, bà L. Khi trả tiền xong lấy xe ra thu c quyền sở hữu của bà Gi và bà đ thực hiện đúng theo hợp đồng ủy quyền, đ trả được 10 k cho Ngân hàng, m i k khoảng 15.000.000 đồng ho c 16.000.000 đồng, không nhớ chính xác số tiền đ đ ng nhưng sau đ bà Gi phát hiện m i lần bà trả tiền g p xe cho Ngân hàng thì số tiền trả vào số tiền vay riêng của ông Th, bà L với Ngân hàng c ng theo số tài khoản của xe nên không phải trả tiền g p xe.

Khoảng tháng 9/2017, bà Gi bán xe ô tô biển số 70 -061.00 cho ông Phan Thái T với giá 690.000.000 đồng, bà Gi đ nh n của ông T 130.000.000 đồng, còn lại số tiền 560.000.000 đồng nhưng thực tế tới th i điểm này số nợ Ngân hàng g p xe chỉ còn 530.000.000 đồng nên ông T còn thiếu bà Gi 30.000.000 đồng tiền mua xe. Ông T đ lấy xe sử dụng và bà Gi đ chuyển giao ngh a vụ trả nợ Ngân hàng cho ông T, ông T phải c ngh a vụ trả g p cho Ngân hàng cho đến hết nợ.

Do bà đ thực hiện đúng ngh a vụ trả g p mua xe tại Ngân hàng nhưng tiền g p xe lại bị trừ vào tiền vay riêng của ông Th, bà L. Bà đ chuyển giao ngh a vụ cho ông T; ông T là ngư i đang giữ xe và đ vi phạm ngh a vụ trả g p với Ngân hàng nên bà Gi không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông Th, bà L đối với bà và cũng không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T đối với bà.

Trong quá trình giải quy t vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ng Phan Thái T trình bày:

Khoảng tháng 10/2017, bà Gi th a thu n bán xe ô tô tải biển số 70 -061.00 cho ông T với giá 690.000.000 đồng, việc mua bán chỉ th a thu n miệng. Ông T đ t c c cho bà Gi hai lần, lần đầu 100.000.000 đồng, lần thứ hai 30.000.000 đồng. Ông T và bà Gi c th a thu n vào ngày thứ hai đ t c c lần đầu vào ngày thứ bảy đến Ngân hàng thanh toán tiền để lấy giấy t xe nhưng Ngân hàng thông báo ông Th, bà L còn nợ hai th tín chấp hơn 100.000.000 đồng nên ông T không đồng ý trả. Bà Gi đưa xe cho ông T sử dụng và trả tiền g p hàng tháng cho Ngân hàng. Ông T trả cho Ngân hàng được 03 k khoảng hơn 50.000.000 đồng; sau đ ông T biết số tiền này không trả cho khoản nợ c thế chấp xe mà trả nợ riêng của ông Th, nên ông T ngưng không thanh toán tiền nữa cho đến nay. Hiện xe đang do ông T giữ, xe hư.

Tại Đơn khởi kiện ngày 14-01-2022, ông T yêu cầu: Trư ng hợp giao dịch dân sự giữa ông T và bà Gi vô hiệu, nếu bu c ông T trả xe ô tô hiệu NHT biển số 70 -061.00 thì ông T yêu cầu bà Gi trả lại cho ông T số tiền mà ông T đ đ t c c mua xe là 130.000.000 đồng m t trăm ba mươi triệu đồng.

Đối với số tiền ông T đ thanh toán cho Ngân hàng hơn 50.000.000 đồng, ông không yêu cầu nh n lại, vì thực tế ông T c sử dụng xe được 03 tháng.

Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 02-6-2022 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

1. hấp nh n yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM P Việt Nam TV

Bu c ông Phan Thái T c ngh a vụ trả cho Ngân hàng TM P Việt Nam TV 01 xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015 cho ông Lê V nh Th đứng tên.

Trư ng hợp ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L không trả nợ thì Ngân hàng TM P Việt Nam TV được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án c thẩm quyền phát m i tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay, tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là: hiếc xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 - 061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015 do ông Lê V nh Th đứng tên.

2. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L đối với bà Phan Thị Ng c i.

Tuyên bố giao dịch mua bán xe ô tô biển số 70 -061.00 giữa ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L với bà Phan Thị Ng c i xác l p thông qua Hợp đồng ủy quyền ngày 05-01-2017 và T th a thu n về việc chuyển nhượng tài sản và chuyển giao ngh a vụ trả nợ ngày 05-01-2017 là vô hiệu.

Bu c ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L c ngh a vụ trả cho bà Phan Thị Ng c i số tiền t ng c ng là 258.389.000 đồng ai trăm năm mươi tám triệu ba trăm tám mươi ch n nghìn đ ng .

3. hấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thái T đối với bà Phan Thị Ng c i.

Tuyên bố giao dịch mua bán xe ô tô biển số 70 -061.00 giữa ông Phan Thái T đối với bà Phan Thị Ng c i là vô hiệu.

Bu c bà Phan Thị Ng c i c ngh a vụ trả cho ông Phan Thái T số tiền t ng c ng là 130.000.000 đồng Một trăm ba mươi triệu đ ng .

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, ngh a vụ do ch m thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 07-6-2022, bị đơn ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L kháng cáo m t phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không tuyên bu c ông Th, bà L c ngh a vụ hoàn trả cho bà Phan Thị Ng c i số tiền 258.389.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông V là ngư i đại diện hợp pháp cho bị đơn ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L, trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp lu t tố tụng của Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước th i điểm H i đồng xét xử nghị án đ thực hiện đúng quy định pháp lu t. Việc chấp hành pháp lu t của ngư i tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp lu t.

ề nội dung: Đề nghị H i đồng xét xử không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Lê V nh Th và bà Nguyễn Thị Ng c L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào k t quả tranh tụng tại phiên tòa, ý ki n Đại diện iện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng:

- Ông Th, bà L, ông D, ông Tr, ông M v ng m t, c đơn xin xét xử v ng m t. Do đ , Tòa án tiến hành xét xử v ng m t các đương sự nêu trên là ph hợp với Điều 227, Điều 228, Điều 296 của B lu t Tố tụng Dân sự.

- Về quan hệ pháp lu t tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp lu t tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là c căn cứ, đúng với quy định của pháp lu t.

Ngày 19-6-2015, ông Th, bà L c vay Ngân hàng số tiền 822.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số H M/15/1636/HĐTD và khế ước nh n nợ số 01/H M/15/1636/HĐTD. Mục đích vay mua xe ô tô c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015, do ông Lê V nh Th đứng tên, th i hạn vay: 72 tháng, l i suất vay: 8.99%/năm, cố định 24 tháng đầu sau đ thay đ i 3 tháng/lần, ngày giải ngân: 19-5-2015, ngày đến hạn: 19-6-2021; tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nêu trên theo Hợp đồng thế chấp số H M/15/1636/HĐT ngày 19-6-2015.

Ngày 05-01-2017, vợ chồng ông Th, bà L th a thu n với bà Gi l p hợp đồng ủy quyền với n i dung bà Gi mua chiếc xe ô tô tải biển số 70 .061.00 mà ông Th, bà L đang thế chấp tại Ngân hàng với giá 750.000.000 đồng. Bà Gi trả trước 133.506.000 đồng, sau đ , bà Gi sẽ c ngh a vụ tiếp tục trả nợ định k theo Hợp đồng tín dụng số H M/15/1636/HĐTD ký giữa ông Th, bà L với Ngân hàng ngày 19-6-2015. Khi trả tiền xong, chiếc xe sẽ thu c quyền sở hữu của bà Gi.

Tháng 9 năm 2017, bà Gi chuyển nhượng chiếc xe ô tô trên cho ông T với giá 690.000.000 đồng không làm giấy t . Ông T đ trả cho bà Gi 130.000.000 đồng. Ông T, bà Gi th a thu n sẽ đến Ngân hàng thanh toán hết số tiền nợ để lấy giấy t xe nhưng Ngân hàng thông báo, ông Th, bà L còn khoản nợ riêng với số tiền 100.000.000 đồng nên không lấy giấy t xe được. Hiện, ông T đ trả cho Ngân hàng được 03 k với số tiền 50.000.000 đồng; chiếc xe nêu trên đang do ông T quản lý.

Về giao dịch mua, bán xe giữa ông Th, bà L với bà Gi và giữa bà Gi với ông T thấy rằng: do ông Th, bà L đ thế chấp chiếc xe ô tô biển số 70 -061.00 cho Ngân hàng nên Ngân hàng là ngư i c quyền sở hữu đối với chiếc xe trên. Việc ông Th, bà L bán xe cho bà Gi; sau đ , bà Gi bán cho ông T nhưng không được sự đồng ý của Ngân hàng là không ph hợp với quy định tại Điều 320 của B lu t Dân sự. Do đ , hợp đồng ủy quyền của ông Th, bà L đối với bà Gi là vô hiệu theo quy định tại Điều 122, 123 của B lu t Dân sự.

Về xử lý giao dịch dân sự vô hiệu:

Do giao dịch giữa ông Th, bà L với bà Gi và giữa bà Gi với ông T vô hiệu nên các bên trả lại cho nhau những gì đ nh n.

ăn cứ các bản sao kê chi tiết tài khoản số 82583122 của ông Lê V nh Th do Ngân hàng cung cấp bút lục 301 đến 309 thể hiện bà Gi đ n p tiền vào tài khoản thanh toán của ông Th 07 lần c ghi chú n i dung về việc bà Gi chuyển tiền g p xe với t ng số tiền 111.589.761 đồng, cụ thể: ngày 19-01-2017 số tiền 16.189.520 đồng; Ngày 20-02-2017 số tiền 16.252.238 đồng; Ngày 20-3-2017 số tiền 15.568.003 đồng; Ngày 20-4-2017 số tiền 15.780.000 đồng; Ngày 22-5-2017 số tiền 15.750.000 đồng; Ngày 29-6-2017 số tiền 15.800.000 đồng; Ngày 31-7-2017 số tiền 16.250.000 đồng. Tháng 9/2017 c thể hiện khách hàng n p tại máy 16.800.000 đồng. Bà Gi cho rằng từ tháng 01/2017 đến khi mua bán xe ô tô biển số 70 -061.00 cho ông T vào khoảng tháng 9/2017 đ đ ng được 10 k là không ph hợp vì từ tháng 01/2017 đến tháng 9/2017 nếu bà Gi n p đủ tiền vào tài khoản thanh toán của ông Th, bà L thì cũng chỉ c 09 k chứ không phải 10 k và thực tế qua sao kê thể hiện tháng 08/2017 bà Gi không c n p tiền vào tài khoản của ông Th. Ông T cho rằng th i điểm chuyển nhượng là vào khoảng tháng 10/2017 và ông Th, bà L cũng xác định từ khi chuyển giao ngh a vụ cho bà Gi thực hiện theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05-01-2017 thì ông Th, bà L không n p tiền vào tài khoản để thanh toán cho khoản vay thế chấp xe. Do đ , đối với số tiền 16.800.000 đồng n p vào tài khoản thanh toán của ông Th vào tháng 9/2017 tuy không ghi chú rõ ai là ngư i n p nhưng c đủ căn cứ để xác định số tiền này là do bà Gi n p. T ng c ng số tiền bà Gi đ n p 08 lần vào tài khoản thanh toán của ông Th tại Ngân hàng là 128.389.761 đồng. Như v y, c đủ cơ sở để xác định t ng số tiền bà Gi đ thanh toán cho ông Th, bà L là 258.389.761 đồng, trong đ số tiền thanh toán trực tiếp là 130.000.000 đồng và số tiền bà Gi trả nợ thay ông Th, bà L cho Ngân hàng là 128.389.761 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm bu c ông Th, bà L c ngh a vụ trả cho bà Phan Thị Ng c i số tiền t ng c ng là 258.389.000 đồng hai trăm năm mươi tám triệu ba trăm tám mươi ch n nghìn đ ng là c căn cứ, ph hợp với quy định của pháp lu t.

Từ những phân tích trên, nên không c cơ sở chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L; chấp nh n l i đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thư ng vụ Quốc H i, về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: ông Th, bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

ác quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. ăn cứ vào khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự.

2. Không chấp nh n kháng cáo của ông Lê V nh Th và bà Nguyễn Thị Ng c L.

3. iữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM-ST ngày 02 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

4. ăn cứ Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 30; ác Điều 35, 39, 147, 165, 227, 228 B lu t Tố tụng dân sự;

ăn cứ các Điều 91, 95 Lu t ác t chức tín dụng; các Điều 117, 122, 123, 297, 298, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 323, 430, 431 của B lu t Dân sự năm 2015.

ăn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc h i qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

5. hấp nh n yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TM P Việt Nam TV.

Bu c ông Phan Thái T c ngh a vụ trả cho Ngân hàng TM P Việt Nam TV 01 xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 -061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015 cho ông Lê V nh Th đứng tên.

Trư ng hợp ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L không trả nợ thì Ngân hàng TM P Việt Nam TV được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án c thẩm quyền phát m i tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay, tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là: hiếc xe ô tô tải c mui, 02 ch ngồi, nh n hiệu NHT , số loại K T, số khung: XSF0F 037031, Số Máy: 150107069197, biển số: 70 - 061.00, theo iấy chứng nh n số 005712, do Phòng ảnh sát iao Thông ông n tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-6-2015 do ông Lê V nh Th đứng tên.

6. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L đối với bà Phan Thị Ng c i.

Tuyên bố giao dịch mua bán xe ô tô biển số 70 -061.00 giữa ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L với bà Phan Thị Ng c i xác l p thông qua Hợp đồng ủy quyền ngày 05-01-2017 và T th a thu n về việc chuyển nhượng tài sản và chuyển giao ngh a vụ trả nợ ngày 05-01-2017 là vô hiệu.

Bu c ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L c ngh a vụ trả cho bà Phan Thị Ng c i số tiền t ng c ng là 258.389.000 đồng ai trăm năm mươi tám triệu ba trăm tám mươi ch n nghìn đ ng .

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất các bên th a thu n nhưng phải ph hợp với quy định của pháp lu t; nếu không c th a thu n về mức l i suất thì quyết định theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B lu t Dân sự năm 2015.

7. hấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thái T đối với bà Phan Thị Ng c i.

Tuyên bố giao dịch mua bán xe ô tô biển số 70 -061.00 giữa ông Phan Thái T đối với bà Phan Thị Ng c i là vô hiệu.

Bu c bà Phan Thị Ng c i c ngh a vụ trả cho ông Phan Thái T số tiền t ng c ng là 130.000.000 đồng Một trăm ba mươi triệu đ ng .

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất các bên th a thu n nhưng phải ph hợp với quy định của pháp lu t; nếu không c th a thu n về mức l i suất thì quyết định theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B lu t Dân sự năm 2015.

8. Về án phí:

8.1. Về án phí sơ thẩm:

Ngân hàng TM P Việt Nam TV không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Phan Thái T không phải chịu án phí sơ thẩm. hi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí đ n p là 3.550.000 đồng Ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đ ng theo Biên lai thu số 0000769 ngày 14/01/2022.

Ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L phải chịu án phí sơ thẩm là 13.219.000 đồng nhưng được khấu trừ với số tiền tạm ứng án phí đ n p t ng c ng là 14.152.000 đồng theo các Biên lai thu số 0000674 ngày 02/12/2021 và Biên lai thu số 0000679 ngày 03/12/2021 của hi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Hoàn trả cho ông Th, bà L số tiền 933.000 đồng Ch n trăm ba mươi ba nghìn đ ng .

Bà Phan Thị Ng c i phải chịu án phí sơ thẩm là 6.800.000 đồng áu triệu tám trăm nghìn đ ng .

8.2. Về án phí phúc thẩm:

Ông Th, bà L phải chịu 2.000.000 hai triệu đồng tiền án dân sự phúc thẩm, được trừ vào 2.000.000 hai triệu đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đ n p theo Biên lai thu số 0001035 ngày 07-6-2022 tại hi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. hi nh n ông Th, bà L đ n p xong.

9. Về chi phí tố tụng khác: ông Lê V nh Th, bà Nguyễn Thị Ng c L phải chịu chi phí định giá xe là 1.200.000 đồng. hi nh n Ngân hàng TM P Việt Nam TV đ n p xong nên bu c vợ chồng ông Th, bà L trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.200.000 đồng một triệu hai trăm nghìn đồng.

10. ác quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

11. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.

12. Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Lu t Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Lu t Thi hành án; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ