vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mậu A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Mậu A 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/01/2022. Giao bị cáo Nguyễn Mậu A cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN MẬU ÁNH - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mậu A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 06/2022/HSST
Ngày: 19/01/2022
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Sỹ Quyền

2. Bà Hoàng Thị Thúy

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương, Thư ký, TANDH. Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2021/TLST-HS ngày 22/12/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS ngày 05/01/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Mậu A, Sinh năm: 1995 Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Q, huyện Q,Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Mậu N (Đã chết); và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1994. Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ ngày 12/11/2021 đến ngày 17/11/2021 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Hoàng Sỹ L, sinh năm 1976 (Vắng mặt). Nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 01 năm 2021, gia đình anh Nguyễn Văn T, ở thôn L, xã Q, huyện Q thuê anh Hoàng Sỹ L thầu xây dựng nhà tại thôn N, xã Q, huyện Q. Sáng ngày 11/11/2021, anh L mang đến 01 máy đo tia laze, hiệu King; 01 máy bàn dùng để cắt sắt hiệu Nikko 83501; 01 máy dùi bê tông, hiệu Osuka PA6 GF30; 01 máy cắt cầm tay, hiệu Kinkoo; 01 máy khoan, hiệu BOSCH PAG-GF35; 02 đoạn dây điện màu vàng, loại 1,5mm dài khoảng 30m; 01 xe rùa; 01 ấm nấu nước, hiệu SANAKY 201903; 01 thanh xà cày bằng kim loại để phục vụ việc xây nhà. Đến 17h30 phút cùng ngày, sau khi thợ nghỉ anh L kiểm tra và mang những đồ trên cất vào trong căn nhà đang xây của anh T rồi cùng với anh T ra về. Đến khoảng 1 giờ 00' ngày 12/11/2021, Nguyễn Mậu A đi chơi về qua nhà anh T đang xây thấy bên trong bật điện sáng, nhà chưa lắp cửa. A quan sát bên trong và xung quanh không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. A đi thẳng vào trong nhà, quan sát thấy ở gầm cầu thang có 01 máy bàn dùng để cắt sắt; ở góc phía nam của gian bếp có 01 máy đo tia laze; 01 máy dùi bê tông; 01 máy cắt cầm tay; 01 máy khoan; 02 đoan dây điện màu vàng, loại 1,5mm, dài khoảng 30m; 01 ấm nước siêu tốc; 01 thanh xà cày bằng kim loại. Do nhiều đồ nên A đi ra lấy chiếc xe rùa để ở sân rồi đi vào bên trong bê những đồ vật nói trên để lên xe rùa rồi đẩy bộ về nhà. Sau đó, A cất chiếc xe rùa dưới bếp, những đồ vật còn lại cất trong phòng ngủ. Đến hơn 6h00' cùng ngày, anh L và anh T đến tiếp tục làm việc thì phát hiện bị mất toàn bộ số tài sản trên. Anh L đến Công an xã Quảng Lộc trình báo sự việc. Do sợ bị phát hiện nên 12h10 phút ngày 12/11/2021, A đến Công an xã Quảng Lộc đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình, giao nộp toàn bộ vật chứng cho Công an xã Quảng Lộc, Công an xã Quảng Lộc chuyển hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo báo cáo của anh Hoàng Sỹ L, sáng ngày 12/11/2021 anh bị kẻ gian lấy cắp 01 máy đo tia laze, hiệu King; 01 máy bàn dùng để cắt sắt hiệu Nikko 83501; 01 máy dùi bê tông, hiệu Osuka PA6 GF30; 01 máy cắt cầm tay, hiệu Kinkoo; 01 máy khoan, hiệu BOSCH PAG-GF35; 02 đoạn dây điện màu vàng, loại 1,5mm dài khoảng 30m; 01 xe rùa; 01 ấm nấu nước, hiệu SANAKY 201903; 01 thanh xà cày bằng kim loại trị giá khoảng 6.800.000 đồng.

Ngày 16/11/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Quảng Xương đã định giá và kết luận: Tổng trị giá tài sản anh L bị mất trộm là 4.800.000 đồng.

Ngày 25/11/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho anh L, anh L đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 22/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Mậu A về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo trong cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Mậu A từ 07 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, đề nghị HĐXX không xét. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền; trình tự, thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Khoảng 1 giờ 00” ngày 12/11/2021 tại nhà đang xây dựng của anh Nguyễn Văn T ở thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Mậu A đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Hoàng Sỹ L gồm: 01 máy đo tia laze hiệu King; 01 máy bàn dùng để cắt sắt hiệu Nikko 83501; 01 máy dùi bê tông, hiệu Osuka PA6 GF30; 01 máy cắt cầm tay, hiệu Kinkoo; 01 máy khoan, hiệu BOSCH PAG-GF35; 02 đoạn dây điện màu vàng, loại 1,5mm dài khoảng 30m; 01 xe rùa; 01 ấm nấu nước, hiệu SANAKY 201903; 01 thanh xà cày bằng kim loại. Tổng trị giá 4.800.000đ.

[3]Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với các tài liệu và chứng cứ đã nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Mậu A phạm tội: Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

[4] Hành vi Trộm cắp của Nguyễn Mậu A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của anh Hoàng Sỹ L một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn trong khu vực. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, không chịu khó lao động, tu dưỡng rèn luyện bản thân, muốn hưởng thụ trên mồ hôi nước mắt của người khác. Bị cáo trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản để có tiền tiêu xài cho cá nhân; Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

{5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

+Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

+Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến Công an xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương đầu thú và giao lại toàn bộ tài sản đã trộm cắp nên áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy, không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Bồi thường dân sự: Bị hại anh L đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xét.

[7] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mậu A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Mậu A 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/01/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Mậu A cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Bồi thường dân sự: Bị hại anh L đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xét.

-Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Buộc bị cáo Nguyễn Mậu A phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại anh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ