- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HSST Ngày: 01/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG
-Thẩm phán tiến hành tố tụng tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương –
Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Kim Động
-Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Động.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Toà án nhân dân huyện Kim Động mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 08/2022/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2022 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HS ngày 23/02/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1994 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã CB, huyện CT, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị T; Vợ: Lê Th và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2021 đến ngày 23/12/2021, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại, có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966. Có mặt.
Anh Nhữ Văn Q, sinh năm 2000. Có mặt.
Đều trú tại: Thôn Hạc Sơn, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm T, tỉnh Thanh Hóa
*Người làm chứng: Anh Trần Quang H, sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn Lương Hội, thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo Nguyễn Văn L đã dùng ứng dụng Messenge qua mạng xã hội Facebook của mình có tên “Thao ly” liên hệ với đối tượng có facebook “Hải quay xe” để mua pháo hoa về sử dụng với giá 600.000 đồng/giàn và hẹn về Hưng Yên giao dịch. Chiều ngày 14/12/2021, L sử dụng xe ô tô Innova biển số 30G-465.71 và rủ Nhữ Văn Q là cháu đi chơi cùng. L không nói cho Q biết việc về tỉnh Hưng Yên mua pháo. Khi đến khu vực cầu Ngàng thuộc thôn Lương Hội, TT Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, L gặp một người thanh niên lạ mặt đi xe mô tô không rõ biển số, bảo L đi vào đường bê tông rồi chỉ cho L thùng bìa catton ở ven đường và bảo “hàng đây”. L đưa cho người đó số tiền 9.000.000 đồng như đã thỏa thuận. Người đó giúp L đưa thùng catton lên xe rồi bỏ đi. Đến 0 giờ 10 phút ngày 15/12/2021, khi L đang di chuyển thì bị Lực lượng công an huyện Kim Động phát hiện bắt quả tang tại khu vực đường bê tông ven sông Cửu An thuộc địa phận thôn Lương Hội, thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, thu giữ 01 thùng bìa các tông bên trong đựng 15 hộp giấy hình trụ vuông kích thước (14,5x14,5x15)cm, vỏ có in hình hoa văn. L khai nhận là pháo mua về để sử dụng. Cơ quan điều tra còn thu giữ số tiền 2.200.000 đồng, 01 điện thoại Iphone, quản lý 01 xe ô tô Innova biển số 30G-465.71 các giấy tờ liên quan
Tại bản kết luận số 01/PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu vật trong niêm phong có tổng khối lượng là 20,5 kg (Hai mươi phẩy năm kilogam), đều là pháo nổ, loại pháo hoa nổ.
Đối với Nhữ Văn Q do được L rủ đi chơi cùng, Q không biết việc L thực hiện việc mua pháo về sử dụng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Số tiền 2.200.000 đồng thu của L được xác định là tiền Q đưa cho L để mua điện thoại hộ nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kim Động đã trả lại cho Q.
Đối với nam thanh niên đã bán pháo cho L, do L khai không biết họ tên, địa chỉ của người này, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kim Động đã tiến hành kiểm tra thông tin tài khoản trên nhưng không có thông tin và hình ảnh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về vật chứng và các đồ vật phương tiện có trong vụ án:
Đối với chiếc xe ô tô Innova biển số 30G-465.71, ông Nguyễn Văn T và L khai nhận do ông T bỏ tiền ra để mua chiếc xe trên của anh Đặng Trọng Trung, sinh năm 1985 ở thôn Phú Diễn, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Tp Hà Nội với giá 350.000.000 đồng và nhờ L đứng tên trên hợp đồng mua bán. Ông T cho L mượn để đi lại nhưng không biết L sử dụng để tàng trữ hàng cấm. Hiện Cơ quan CSĐT - Công an huyện Kim Động đang quản lý chiếc xe này.
Đối với 01 thùng catton pháo được niêm phong hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại Iphone của L đã sử dụng liên lạc mua pháo hiện đã được nhập kho vật chứng.
Tại Q định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/2022/QĐ-VKSKĐ ngày 16/02/2022 của VKSND huyện Kim Động đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ hàng cấm”
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, xin hưởng mức hình phạt thấp nhất và xin cải tạo tại địa phương.
Đại diện VKSND huyện Kim Động giữ quyền công tố và luận tội tại phiên tòa: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã có đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn L phạm tội Tàng trữ hàng cấm. Do đó, đại diện VKSND huyện Kim Động giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Thẩm phán áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1,2,5 Điều 65; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự:
+Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Tàng trữ hàng cấm;
+Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Cẩm Bình, huyện Cẩm T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
+Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Đề nghị HĐXX:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động; tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng catton pháo được niêm phong hoàn lại sau giám định;
Trả lại ông Nguyễn Văn T 01 xe ô tô Innova BKS 30G – 645.71 và các giấy tờ kèm theo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai phạm của mình và đề nghị HĐXX cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định như sau:
. Về hành vi, Q định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Kim Động và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu giữ được...Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do trước đó, L đã đặt mua pháo trên mạng xã hội Facebook của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên chiều ngày 14/12/2021, L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Innova BKS 30G – 645.71 mượn của bố đẻ là ông Nguyễn Văn T đến thôn Lương Hội, thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động chở 01 thùng bìa catton bên trong đựng 15 hộp giấy trụ vuông là pháo về nhà để sử dụng. Tại Kết luận giám định số 01/PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu vật trong niêm phong có tổng khối lượng 20,5kg đều là pháo nổ, loại pháo hoa nổ.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu của bản thân nên vẫn thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự như Q định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo, Thẩm phán nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và chính sách độc quyền quản lý một số loại hàng hóa của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của công an xã Cẩm Bình, huyện Cẩm T nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm I,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Từ những phân tích như trên, xét thấy bị cáo phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức giáo dục răn đe riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, Tòa án xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không giữ chức vụ gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
.Đối với nam thanh niên đã bán pháo cho L, do L không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động không đủ căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.
Đối với anh Nhữ Văn Q là người được L rủ đi chơi cùng, do anh Q không biết L thực hiện hành vi mua pháo về sử dụng nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với anh Q là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Innova BKS 30G – 645.71, quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T. Ông T cho L mượn xe nhưng không biết L sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho ông T chiếc xe và các giấy tờ kèm theo gồn 01 đăng ký xe, 01 bảo hiểm và 01 giấy đăng kiểm.
Đối với số pháo hoàn lại sau giám định được đựng trong thùng bìa catton niêm phong là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone đã thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
Q ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 BLHS; Điều 92 Luật THAHS
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Cẩm Bình, huyện Cẩm T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hành phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L;
-Tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng bìa các tông niêm phong dán kín chứa 19kg pháp hoàn lại sau giám định.
- Trả lại ông Nguyễn Văn T, HKTT: Thôn Hạc Sơn, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm T, tỉnh Thanh Hóa 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, lọa xe ô tô con màu vàng BKS 30G – 645.71. (Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/2/2022 giữa Công an huyện Kim Động và Chi cục Thi hành án huyện Kim Động và biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/02/2022 giữa Công an huyện Kim Động và Ban chỉ huy quân sự huyện Kim Động).
- Trả lại ông Nguyễn Văn T các tài liệu, đồ vật gồm chìa khóa xe, giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy đăng kiểm, giấy đăng ký xe hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án tại Tòa án.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA); - VKSND huyện Kim Động; - Chi cục THADS huyện Kim Động; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Động; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu Toà án. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hương |