- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo D Hồng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày 22-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Thủy và ông Nguyễn Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: D Hồng D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28 tháng 10 năm 2001 tại Sông Công, Thái Nguyên; Nơi thường trú: Tổ dân phố Q, phường B, thành phố S, Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: D Hồng D và bà: D Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 D bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thời hạn 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Anh Đặng Văn Tr, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 8, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, Thái Nguyên; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông D Hồng D, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường B, thành phố Sông Công, Thái Nguyên; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Viết L, sinh năm 2003; địa chỉ:xóm T, xã T, thành phố Sông Công, Thái Nguyên; vắng mặt.
2. Anh Lê Tr K, sinh năm 2004; địa chỉ:Tổ 13, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
3.Chị D Mỹ H, sinh năm 1998; địa chỉ: TDP T phường L, thành phố Sông Công, Thái Nguyên; vắng mặt.
4. Anh Đặng Hoài S, sinh năm 2000; địa chỉ:Tổ 3, phường M, thành phố S, Thái Nguyên; vắng mặt.
5. Anh Lò Mai Th, sinh năm 2001; địa chỉ: B, xã C, huyện T, Sơn La; vắng mặt.
6. Anh Lò Văn L, sinh năm 1995; địa chỉ: B, xã C, huyện T, Sơn La; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/7/2021 D Mỹ Hạnh, Trần Viết Long, Lê Tr Kiên, D Hồng D rủ nhau đến cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn Srtech ở Tổ dân phố (TDP) Tân D, phường Bách Quang, thành phố Sông Công để Hạnh gặp và trả điện thoại cho anh Đặng Hoài Sơn là bảo vệ công ty Srtech. Trước khi đi D cầm theo 01 con dao dài 42 cm, có chuôi nhựa dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại bản rộng nhất 7cm và 01đoạn ống kim loại. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, nhóm của Hạnh điều khiển 02 xe mô tô đi đến cổng Công ty Srtech, khi đi qua cổng bảo vệ A2 công ty Srtech khoảng 20m thì đỗ xe trên vỉa hè, D cầm chiếc áo dùng để quấn con dao và đoạn ống kim loại để dưới gốc cây trên vỉa hè. Hạnh dùng điện thoại gọi cho Sơn ra cổng để nói chuyện, tại đây Hạnh yêu cầu Sơn đọc mật khẩu điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 màu đen của Sơn với mục đích để Hạnh xóa số điện thoại và các nội dung Hạnh và Sơn đã trao đổi liên quan đến chuyện tình cảm của Hạnh và Sơn trước đó. Khi Hạnh đang mở điện thoại của Sơn thì Sơn lao vào dùng hai tay du đẩy Hạnh để giật lại chiếc điện thoại làm Hạnh bị ngã, thấy vậy Long và Kiên chạy về gốc cây phía sau lấy gậy sắt đuổi theo vụt Sơn nhưng không trúng, Sơn bỏ chạy về hướng cổng bảo vệ A2 và kêu cứu.
Khi nghe tiếng kêu cứu thì Đặng Văn Tr và Lò Mai Thành, Lò Văn Linh cùng là bảo vệ với Sơn chạy ra, trong đó Tr cầm gậy cao su tiến về nhóm D, khi đến vị trí nhóm D thì Tr dùng gậy cao su bằng tay phải vụt một nhát vào sườn bên trái của D Hồng D, D liền lấy con dao để dưới gốc cây chém về hướng người Tr, Tr giơ tay trái ra đỡ thì bị D chém vào cẳng tay trái. Thấy D chém vào tay của Tr chảy máu nên nhóm của Hạnh bỏ chạy. Đại diện Công ty Srtech trình báo Công an phường Bách Quang đến lập biên bản sự việc và đưa Tr đến Bệnh viện C Thái Nguyên chữa trị vết thương từ ngày 24/7/2021 đến ngày 07/8/2021 thì được ra viện.
Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công đã ra quyết định trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tật của Đặng Văn Tr. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 624/TgT ngày 08/9/2021 của Tr tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên đối với Đặng Văn Tr kết luận: Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12 %, cơ chế hình thành vết thương: do tác động của vật có cạnh sắc.
Vật chứng: 01 túi niêm phong ký hiệu PS3 dấu vết máu mã số: PS32007125; 01 con dao dài 42 cm, có chuôi nhựa dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại bản rộng nhất 7cm, được dán giấy niêm phong ký hiệu A; 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu D, bên trong chứa 01 chiếc áo sơ mi dài tay, sọc kẻ màu xanh; 01 đoạn ống kim loại trắng sáng màu, dài 59 cm đường kính 2,6 cm được dán giấy niêm phong ký hiệu L.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo D Hồng D bồi thường cho bị hại là anh Đặng Văn Tr số tiền 105.000.000đ, đến nay anh Tr không yêu cầu bồi thường thêm gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 26/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo D Hồng D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Người bị hại anh Đặng Văn Tr đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về phần bồi thường dân sự: bị hại anh Đặng Văn Tr không có yêu cầu gì khác; ông D Hồng D (bố đẻ bị cáo) là người trực tiếp bồi thường cho bị hại, ông D không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bồi thường. Các bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo D về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo D phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận tự nguyện bồi thường số tiền 105.000.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy01 bì niêm phong ký hiệu PS3 2007125 đựng 02 que tăm bông thấm dấu vết nghi máu; 01 con dao dài 42 cm, chuôi bằng nhựa dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng nhất 7cm của D Hồng D được niêm phong ký hiệu A; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, loại áo sọc kẻ màu xanh, được niêm phong ký hiệu D; 01 đoạn ống kim loại sáng màu, dài 59 cm, đường kính 2,6 cm được dán giấy niêm phong ký hiệu L. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không oan, đúng người, đúng tội. Bị hại không có ý kiến gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 ngày 24/7/2021 tại Tổ dân phố Tân D, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, D Hồng D dùng dao chém vào tay trái anh Đặng Văn Tr gây ra thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tr là 12% (Mười hai phần trăm).
Hành vi nêu trên của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng ... hung khí nguy hiểm...;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
…đ) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi (đã bị Công an thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/12/2021 về hành vi tham gia đánh nhau ngày 24/7/2021), tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử và áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thời hạn 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nhưng cần cân nhắc ở mức cao của luận tội để răn đe giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, Tòa án không xem xét giải quyết.
Áp dụng Điều 123, Điều 124 Bộ luật tố tụng hình sự: ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu PS3 2007125 đựng 02 que tăm bông thấm dấu vết nghi máu; 01 con dao dài 42 cm, chuôi bằng nhựa dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng nhất 7cm của D Hồng D được niêm phong ký hiệu A; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, loại áo sọc kẻ màu xanh, được niêm phong ký hiệu D; 01 đoạn ống kim loại sáng màu, dài 59 cm, đường kính 2,6 cm được dán giấy niêm phong ký hiệu L.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án có D Mỹ Hạnh, Lê Tr Kiên, Trần Viết Long có hành vi chuẩn bị hung khí là ống sắt mục đích tìm đánh Đặng Hoài Sơn, nhưng anh Sơn bỏ chạy nên không đánh được, đối với Đặng Văn Tr có hành vi dùng gậy cao su đánh D Hồng D tuy nhiên không để lại thương tích nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hạnh, Long, Kiên và Tr theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 299, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo D Hồng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Xử phạt: D Hồng D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án này.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Áp dụng Điều 123, Điều 124 Bộ luật tố tụng hình sự: ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu PS3 2007125 đựng 02 que tăm bông thấm dấu vết nghi máu; 01 con dao dài 42 cm, chuôi bằng nhựa dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng nhất 7cm của D Hồng D được niêm phong ký hiệu A; 01 chiếc áo sơ mi dài tay, loại áo sọc kẻ màu xanh, được niêm phong ký hiệu D; 01 đoạn ống kim loại sáng màu, dài 59 cm, đường kính 2,6 cm được dán giấy niêm phong ký hiệu L.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/3/2022 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Cơ quan THAHS TP Sông Công; - Chi cục THADS TP Sông Công; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu: HS; VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh |