- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Hà tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày:19/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhơn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Quảng và bà Ngô Thị Thao.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh H; sinh năm 1981 tại Thái N, nơi ĐKHKTT: Thôn Tảo Đ, xóm Đ, xã Tân P, thị xã Phổ Y, tỉnh Thái N; chỗ ở Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn B, mẹ Trần Thị H có vợ là Trần Thị L và chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: 01.
- Ngày 13/5/2016, bị Tòa án nhân dân TP.P, tỉnh Gia Lai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, thời hạn 18 tháng, tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Ngày 21/6/2017, chấp hành xong thời hạn cai nghiện.
- Ngày 13/6/2019, bị Tòa án nhân dân TP.P, tỉnh Gia Lai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, thời hạn 24 tháng, tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Ngày 21/01/2021, chấp hành xong thời hạn cai nghiện.
Bị can Nguyễn Mạnh H bị tạm giữ từ ngày 19/8/2021 đến ngày 28/8/2021, sau đó bị áp dụng biện pháp giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người bị hại:
- Bà Phan T, sinh năm 1994; địa chỉ: Hẻm 98 Lý Đ, tổ 5, phường Trà B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn N, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 6, phường Trà B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1975; địa chỉ: Hẻm 98 Lý Đ, tổ 5, phường Trà B,
thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh H là người vừa chấp hành xong thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc và không có nghề nghiệp ổn định. Ngày 19/8/2021, khi đi lang thang ở khu vực đường Nguyễn Thiện T, phường Diên H, TP.P thì gặp một đối tượng nam thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) bắt chuyện làm quen và rủ H đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. Đối tượng nam thanh niên điều khiển xe mô tô (chưa xác định được biển số) chở H đi dạo trên địa bàn TP.P đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi vào hẻm số 98 đường Lý Đ, phường Trà B, TP.P, cả hai phát hiện thấy có xe máy biển số 81FD-6080 của chị Phan Thị Thu Tr đang dựng trước cổng nhà, chìa khóa điện cắm trong xe nhưng không có người trông coi; đối tượng nam thanh niên dừng xe, đứng gần đó cảnh giới để H đi đến dắt ra đường Lý Đ tẩu thoát. Khi H vừa dắt đi được một đoạn khoảng 16 mét và đang khởi động máy, thì bị ông Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1975, trú hẻm 98 đường Lý Đ, Tổ 05, phường Trà B, TP.P) nhìn thấy, nghi là H đang trộm cắp nên chạy ra hô hoán, thì đối tượng nam thanh niên đi cùng với H điều khiển xe mô tô bỏ chạy; H bị ông Nguyễn Mạnh H bắt giữ cùng với xe máy 81FD-6080 để xử lý; thu giữ trong người H 01 kìm cắt bằng kim loại dài 20cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh dài 12cm và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh H, số 090770357.
Qua định giá, xác định xe máy nhãn hiệu Nagaki, biển số 81FD-6080, màu đỏ-đen-bạc là của chị Phan T bị Nguyễn Mạnh H chiếm đoạt ngày có trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Sau khi định giá, Cơ quan điều tra xử lý trả lại xe máy trên cho chị Trang.
Đối với các đồ vật, giấy tờ thu giữ của Nguyễn Mạnh H, qua điều tra xác định: Kìm cắt bằng kim loại dài 20cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh dài 12cm là do đối tượng nam thanh niên cho H, không liên quan đến hành vi trộm cắp xe máy biển số 81FD-6080; giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh H, là giấy tờ tùy thân của H. Cơ quan điều tra chuyển kìm cắt và Giấy chứng minh nhân dân trên theo vụ án để xử lý.
Về dân sự: Sau khi được nhận lại xe máy biển số 81FD-6080, chị Phan T không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 15/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm: i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 9 tháng tù.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Trả lại cho bị cáo một kìm cắt sắt, một chứng minh nhân dân.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ nôi dung bản luận tội và mức hình phạt mà Kiểm sát viên công bố, không có ý kiến tranh luận gì và trình bày diễn biến vụ án đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, không có ý kiến khiếu nại gì và đề nghị tiêu hủy chiếc kìm cắt sắt đã bị thu giữ.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan tiến hàn tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình.
Về hành vi thực hiện tội phạm bị cáo:
Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác đã được thẩm tra. Do đó có cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 19/8/2021 tại hẻm 98 đường Lý Đ, tổ 5, phường Trà B, thành phố P, lợi dụng lúc chị Phan T sơ hở để xe mô tô biển kiểm soát 81FD - 6080 trước nhà có gắn sẳn chìa khóa điện không có người trông coi, Nguyễn Mạnh H đã lén lút dắt ra đường khởi động máy để tẩu thoát thì bị bắt giữ cùng vật chứng
Tại bản kết luận giám định số 140/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự, xác định giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Mạnh H chiếm đoạt có giá trị là 3.000.000đ ( Ba triệu đồng), nên đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 15/12/2021 là đúng người, đúng tội và có căn cứ.
Nguyễn Mạnh H là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhiều lần. Tuy nhiên, sau chấp hành xong, bị cáo không lo lao động chân chính để nuôi sống bản thân và gia đình mà chọn cuộc sống lang thang để phạm pháp. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân nên cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án tù nghiêm khắc để giáo dục, răn đe.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, mức án tù mà khung hình phạt quy định không quá ba năm. Do đó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm: i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để cân nhắc khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vật chứng:
- Vật chứng là chiếc xe mô tô biển 81FD – 6080, cơ quan Điều tra đã xác minh nguồn gốc và trả lại cho chủ sở hữu hợp là có cơ sở pháp luật.
- Đối với kìm cắt sắt bằng kim loại là tài sản không liên quan đến việc phạm tội đã bị cơ quan Điều tra thu giữ thì bị cáo không có nhu cầu sử dụng nên không nhận lại, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh H là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần phải trả lại cho bị cáo.
Đối với ý kiến, đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa về mức án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc xử lý vật chứng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 06 ( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/8/2021.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước một chiếc kìm cắt bằng kim loại.
Hoàn trả lại cho Nguyễn Mạnh H một chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh H sau khi chấp hành xong án phạt tù.
Tình trạng, đặc điểm của tài sản, giấy tờ nói trên thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17/2022 ngày 22/12/2021 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia lai.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Gia lai; - VKS TP P; - Công an Tp. P; - THADS Tp.P; - Bị cáo; - Lưu hs. . | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Nhơn |