- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày: 20-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Thân
Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST–HS ngày 05 tháng 01 năm 2021 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Tuấn D, tên gọi khác: T, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1988 tại Đ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 02 Lê Ngô C, tổ 11, phường T, quận T, thành phố Đ; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B. Địa chỉ: 24 Lê Vĩnh H, quận H, thành phố Đ.
Người đại diện theo pháp luật: Anh: Lê Huy B, sinh năm: 1985. Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh: Nguyễn Triệu T, sinh năm: 1995; Địa chỉ: K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ. (Vắng mặt);
+ Chị: Trương Thị Yến N, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ 43, phường T, quận T, thành phố Đ. (Vắng mặt);
+ Ông: Trần Quốc B, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Tổ 12, phường T, quận T, thành phố Đ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/4/2021, chị Trương Thị Yến N ký kết hợp đồng thi công nhà ở tại K263/35C đường Lê D, phường T với Công ty TNHH Kiến trúc nội thất B do anh Lê Huy B làm giám đốc kiểm là chủ thầu, quản lý xây dựng công trình trên. Anh B thuê Nguyên Tuấn D chở vật liệu xây dựng đến công trình. Trong quá trình làm việc, D đã nhiều lần trộm cắp vật liệu xây dựng của công trình, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 17/6/2021, trong lúc đang di chuyển vật liệu xây dựng vào nhà đang xây ở K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ; Nguyễn Tuấn D thấy không có ai quản lý công trình nên nảy sinh ý định trộm cắp vật liệu xây dựng. D lén lấy trộm 11 bao xi măng hiệu Sông Gianh, 01m³ (khối) cát xây và 100 viên gạch xây loại 06 lỗ mang ra ngoài. Sau khi lấy được tài sản, D dùng xe mô tô và xe rùa tại công trình chở đến các công trình nhà ở đang xây dựng khác bán lấy tiến tiêu xài. Qua định giá, tổng giá trị tài sản D trộm cắp lần này là 1.209.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 25/6/2021, cũng với cách thức như trên, D tiếp tục đến công trình nhà đang xây ở K263/35C đường Lê D, phường T thấy không có ai quản lý công trình. Dũng lén lấy trộm 10 bao xi măng hiệu Sông Gianh, 06 cây sắt loại phi 16 hiệu Hòa Phát, 30 ký sắt cuộn loại phi 6 hiệu Hòa Phát rồi dùng xe mô tô chở xi măng, sau đó vác sắt đi bộ đến bán cho các công trình nhà ở đang xây khác và bán cho người thu mua phế liệu vãng lai lấy tiền tiêu xài. Qua định giá, tổng giá trị tài sản Dũng trộm cắp lần này là 3.281.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 28/6/2021, D đến công trình nhà đang xây ở K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ thấy cửa công trình đã khóa, không có ai trông coi, D dùng tay đẩy lệch cửa sang một bên rồi đột nhập vào trong lấy trộm 08 bao xi măng hiệu Sông Gianh rồi dùng xe mô tô chở đến bán cho các công trình đang xây khác lấy tiền tiêu xài. Qua định giá, tổng giá trị tài sản D trộm cắp lần này là 592.000 đồng.
Đến ngày 29/6/2021, anh Lê Huy B phát hiện bị mất trộm tài sản tại công trình nên đến Công an phường Tân Chính trình báo. Ngày 23/7/2021, biết anh B đã trình báo Cơ quan Công an nên D đến Công an quận Thanh Khê đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn D khai có bán cho ông Trần Quốc B 04 bao xi măng Sông Gianh với giá 300.000 đồng vào khoảng cuối tháng 6/2021. Ông Trần Quốc B khai có mua của D do trước đó có nhờ D đi mua giúp về xây nhà nhưng không biết 04 bao xi măng do D trộm cắp mà có. Số vật liệu trộm cắp còn lại, D không nhớ rõ địa điểm tiêu thụ, tài sản không thu hồi được. Chiếc xe mô tô D dùng chở xi măng trộm cắp đi bán, D mua lại với giá 800.000 đồng, không nhớ biển số, nhãn hiệu và đã bị mất trộm vào đầu tháng 7/2021.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 88 ngày 23/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định:
29 bao xi măng hiệu Sông Gianh có tổng trị giá là 2.146.000 đồng
100 viên gạch xây loại 06 lỗ có trị giá là 135.000 đồng;
0lm3 (khối) cát xây có trị giá là 260.000 đồng;
30 kilogam sắt loại phi 6 hiệu Hòa Phát có trị giá là 573.000 đồng;
06 cây sắt loại phi 16 hiệu Hòa Phát có trị giá là 1.968.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Dũng trộm cắp 03 lần nêu trên là 5.082.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D mức án từ 09 tháng đến 15 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
- 01 đĩa CD màu vàng là dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera ghi hình tại số nhà K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ, ghi lại quá trình trộm cắp tài sản của D.
- 01 tờ giấy A4 (giấy màu) được in ra từ điện thoại di động trên ứng dụng Zalo là những dòng tin nhắn D nhắn cho anh Lê Huy B.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố anh Lê Huy B là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B yêu cầu bị cáo Nguyễn Tuấn D phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.
Quá trình chuẩn bị xét xử, ngày 11/01/2022 Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B có văn bản không yêu cầu bị cáo Nguyễn Tuấn D phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo không có lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Tuấn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào các ngày 17, 25 và 28/6/2021, tại công trình nhà ở đang xây dựng số K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ do Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B đang thi công thông qua người đại diện theo pháp luật là anh Lê Huy B để quản lý, Nguyễn Tuấn D đã 03 lần trộm cắp vật liệu xây dựng, cụ thể:
Lần 1: 11 bao xi măng hiệu Sông Gianh, 01m³ (khối) cát xây và 100 viên gạch xây loại 06 lỗ có tổng giá trị: 1.209.000 đồng;
Lần 2: 10 bao xi măng hiệu Sông Gianh, 06 cây sắt loại phi 16 hiệu Hòa Phát, 30 ký sắt cuộn loại phi 6 hiệu Hòa Phát có tổng giá trị: 3.281.000đồng;
Lần 3: 08 bao xi măng hiệu Sông Gianh có giá trị: 592.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản 03 lần D trộm cắp là 5.082.000 đồng (Năm triệu, không trăm tám mươi hai ngàn đồng).
Do đó hành vi của Nguyễn Tuấn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số số 03/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo là một thanh niên khoẻ mạnh, có việc làm và thu nhập nhưng vì lòng tham và để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp mặc dù có giá trị không lớn nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là xem thường pháp luật, bị cáo đã 03 lần trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B nhưng trong đó có 01 lần trộm cắp tài sản có giá trị là 3.281.000 đồng. Khi vụ việc được trình báo Công an thì bị cáo có thái độ xem thường, xúc phạm đối với anh Lê Huy B là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B. Đồng thời, bị cáo không có thiện chí bồi thường để khắc phục hậu quả.
Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; bị cáo đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, đại diện Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố anh Lê Huy B là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B yêu cầu bị cáo Nguyễn Tuấn D phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.
Quá trình chuẩn bị xét xử, ngày 11/01/2022 Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B có văn bản không yêu cầu bị cáo Nguyễn Tuấn D phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của Công ty TNHH Kiến trúc Nội thất B nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng các quy định điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết:
- Các vật chứng kèm hồ sơ vụ án có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ là:
+ 01 đĩa CD màu vàng là dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera ghi hình tại cố nhà K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ, ghi lại quá trình trộm cắp tài sản của D.
+ 01 tờ giấy A4 (giấy màu) được in ra từ điện thoại di động trên ứng dụng Zalo là những dòng tin nhắn D nhắn cho anh Lê Huy B.
Đối với ông Trần Quốc B có hành vi mua lại 04 bao xi măng Sông Gianh nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý.
Đối với những người mua vật liệu xây dựng do D trộm cắp mà có hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
01 đĩa CD màu vàng là dữ liệu điện tử được trích xuất từ Camera ghi hình tại số nhà K263/35C đường Lê D, phường T, quận T, thành phố Đ, ghi lại quá trình trộm cắp tài sản của D.
01 tờ giấy A4 (giấy màu) được in ra từ điện thoại di động trên ứng dụng Zalo là những dòng tin nhắn D nhắn cho anh Lê Huy B.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Tuấn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo Nguyễn Tuấn D; - Viện kiểm sát nhân dân Q.Thanh Khê; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q. Thanh Khê; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an Q. Thanh Khê; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an TP. Đà Nẵng; - Trại tạm giam công an TP. Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục thi hành án dân sự Quận Thanh Khê. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Ánh |