vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thành A 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi tháng) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Thành A cho UBND xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Thành A phạm tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn h…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày 21-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Biểu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Như Huy

Ông Nguyễn Duy Nhất

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thành A. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/4/1994, tại: Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn Tiên Thuận, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 07/12. Họ tên cha: không rõ (con ngoài giá thú). Họ tên mẹ: Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1968. Vợ: Lê Thị Á Nguyệt, sinh năm 1996 (đã ly hôn). Con: Có 01 con sinh năm 2020. Tiền án/Tiền sự: Không. Nhân thân: Vào ngày 18/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 28/2015/HSST. Bị cáo Phạm Thành A đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 08/11/2021 đến nay – có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành Đ – sinh năm: 1997, địa chỉ: Thôn Tiên Thuận, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định – có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Đ – sinh năm: 1996, địa chỉ: Thôn Định Trung, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Ánh T – sinh năm: 2003, địa chỉ: Thôn Tiên Thuận, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định – có mặt.

3. Anh Nguyễn Văn S – sinh năm: 2000, địa chỉ: Thôn Định Trung, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 09/10/2021, Phạm Thành A tham gia uống bia cùng với Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Ánh T tại khu vực bờ ao phía sau nhà ông Điện ở thôn Định Trung, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Sau đó, A gọi điện thoại rủ Nguyễn Thành Đ đến uống bia, Đ đến và tham gia uống bia với cả nhóm. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, giữa Đ và A có nói chuyện, tranh cãi về việc xe mô tô của Đ và A xe nào chạy mạnh hơn, đồng thời thách thức đòi đua xe với nhau. Thấy vậy, Đ cho rằng xe mô tô của Đ chạy mạnh hơn xe A nên nói “Anh em uống ba chén mà đòi đua xe làm gì”, nghe vậy A nói lại “Mày biết gì trong đó mà nói, mày không biết tính tao na” và thách thức đòi đua xe với Đ. Lúc này, Đ nói “Đ… mẹ, anh em rủ nhau uống mấy ly mà đòi đua xe”. A tức vì sao Đ có lời nói xúc phạm đến mình nên nói “Sao mầy nhỏ mà mất dạy cứ nói đ… mẹ”, vừa nói xong A dùng tay phải đấm trúng vào vùng môi trên làm Đ mất thăng bằng ngã ngửa ra sau, Đ đang lom khom đứng dậy thì A tiếp tục dùng tay trái cầm vỏ chai bia Quy Nhơn, loại vỏ thuỷ tinh đánh một cái theo hướng từ trên xuống làm phần đế chai trúng vào vùng đỉnh đầu gây thương tích, vỏ chai bia không bị vỡ. Lúc này, Đ lùi ra sau nên bị trượt ngã vào hàng rào lưới B40 phía sau lưng, thấy vậy Đ, S, T can ngăn không cho đánh nhau nữa nên A vứt vỏ chai bia tại hiện trường, rồi tự điều khiển xe mô tô về nhà.

(Bút lục số: 98-105; 113-117; 120-125; 128-129; 138-161)

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 279/2021/PY-TgT ngày 02/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Nguyễn Thành Đ là 08%. (Bút lục số: 22-23)

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo Phạm Thành A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà Phạm Thị Mỹ D là mẹ ruột của Phạm Thành A đã tự nguyện bồi thường thay cho A 3.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả.

Về vật chứng: Không.

Về vấn đề bồi thường dân sự, bị hại Nguyễn Thành Đ có đơn yêu cầu bị can Phạm Thành A bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là: 49.398.837 đồng, đến nay gia đình bị cáo Phạm Thành A đã đưa trước 3.000.000 đồng. (Bút lục số: 95; 125-130).

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, truy tố bị cáo Phạm Thành A về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 65; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thành A từ 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản bồi thường theo yêu cầu bị hại như sau:

- Chi phí điều trị tại phòng khám Thành Long: 848.837 đồng.

- Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại nhà: 37 ngày x 50.000 đồng/ngày = 1.850.000 đồng.

- Tổn thất tinh thần: (08% x 50 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng/tháng)/100%) = 5.960.000 đồng.

Tổng cộng các khoản là: 8.658.837 đồng.

Bị cáo Phạm Thành A giao trước cho bị hại Nguyễn Thành Đ số tiền 3.000.000 đồng (Theo giấy giao nhận tiền ngày 10/12/2021). Nên buộc bị cáo A phải bồi thường cho bị hại Đ số tiền còn lại là: 5.658.837 đồng.

Ý kiến của bị cáo:

Về hình sự: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, mức án cho bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Mong Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị hại:

Về hình sự: Xét xử theo quy định pháp luật.

Về bồi thường thiệt hại: Giữ nguyên theo đơn yêu cầu bồi thường ngày 22/11/2021, buộc bị cáo A phải bồi thường cho bị hại số tiền 49.398.837 đồng.

Ý kiến của những người làm chứng trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án, chứng minh được các tình tiết vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không có trình bày gì thêm cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ, đề nghị gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và mong bị hại tha thứ cho những lỗi lần mà bị cáo gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và pháp luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như Bản ảnh nhận dạng vật chứng, biên bản xác định vị trí hiện trường, bản kết luận giám định pháp y…Từ đó, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 09/10/2021, tại bờ ao nhà ông Nguyễn Văn Đ ở thôn Định Trung, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, giữa Phạm Thành A và Nguyễn Thành Đ xảy ra mâu thuẫn về việc tranh cãi xe ai chạy mạnh hơn nên Phạm Thành A đã có hành vi dùng tay phải đấm vào vùng môi trên và dùng tay trái cầm vỏ chai bia Quy Nhơn đánh vào vùng đỉnh đầu của Nguyễn Thành Đ gây thương tích. Hậu quả, Đ bị thương tích với tỷ lệ 08%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi nói trên của bị cáo Phạm Thành A là nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của anh Nguyễn Thành Đ (bị thương tích tỷ lệ 08%) mà còn làm mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân ở địa phương. Bị cáo là người trưởng thành phát triển bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn thực hiện, nên cần phải có mức hình phạt và mức án thỏa đáng để răng đe, giáo dục bị cáo “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải phạm tội lần đầu và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân bị cáo: Vào ngày 18/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 28/2015/HSST.

. Về căn cứ quyết định hình phạt:

Hội đồng xét xử xét thấy giữa bị cáo và bị hại có quan hệ quen biết nhau, cùng uống rượu, bia chung với nhau. Tuy nhiên, bị cáo A đã uống nhiều rượu bia nên có xảy ra việc thách thức với bạn nhậu cùng về việc “xe ai chạy mạnh hơn – đua xe” kèm theo việc kích thích của rượu bia nên bị cáo không làm chủ được hành vi của mình, đã dùng tay phải đấm vào vùng môi trên và dùng tay trái cầm vỏ chai bia Quy Nhơn đánh vào vùng đỉnh đầu của bị hại Đ, làm cho bị hại bị thương với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 08%.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ (nêu trên) và là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát để thể hiện sự khoan hồng, nghiêm minh của pháp luật cũng là tạo điều kiện để bị cáo cải tạo thành người tốt cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay theo đề nghị của bị hại và đại diện Viện kiểm sát về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, thì thấy rằng: Bị hại Nguyễn Thành Đ yêu cầu bị cáo Phạm Thành A phải bồi thường 49.398.837 đồng, gồm các khoản:

- Chi phí điều trị tại phòng khám Thành Long: 848.837 đồng.

- Tiền xe chở bị hại đi điều trị: 2.000.000 đồng.

- Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại nhà: 37 ngày x 50.000 đồng/ngày = 1.850.000 đồng.

- Tổn thất tinh thần: 44.700.000 đồng.

Trong các khoản yêu cầu trên, các khoản chi phí điều trị có chứng từ hợp lệ, khoản bồi dưỡng điều trị tại nhà được chấp nhận; khoản tổn thất tinh thần chấp nhận một phần; khoản tiền xe chở bị hại đi khám bệnh không có chứng từ nên không được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận những yêu cầu có căn cứ sau đây:

- Chi phí điều trị tại phòng khám Thành Long: 848.837 đồng.

- Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại nhà: 37 ngày x 50.000 đồng = 1.850.000 đồng.

- Tổn thất tinh thần: (08% x 50 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng/tháng)/100% = 5.960.000 đồng.

Tổng cộng các khoản là: 8.658.837 đồng.

Bị cáo Phạm Thành A giao trước cho bị hại Nguyễn Thành Đ số tiền 3.000.000 đồng (Theo giấy giao nhận tiền ngày 10/12/2021). Nên buộc bị cáo Phạm Thành A phải bồi thường cho bị hại Đ số tiền còn lại là: 5.658.837 đồng.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Thành A là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 65; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thành A 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi tháng) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thành A cho UBND xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về bồi thường thiệt hại:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015

+ Tuyên buộc: Bị cáo Phạm Thành A phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành Đ số tiền là: 5.658.837 đồng

+ Bác số tiền 40.740.000 đồng mà bị hại Nguyễn Thành Đ yêu cầu bị cáo Phạm Thành A phải bồi thường.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015 và Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên buộc: Bị cáo Phạm Thành A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ