vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/02/2022). Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Uỷ ban nhân dân xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Minh 171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 25/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Hường và ông Nguyễn Văn Hữu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.

Vào hồi 8 giờ, ngày 25 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 21/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 08/02/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 17/10/1982, tại xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn M H, sinh năm 1962. Con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Đều đang cư trú tại Thôn Đông V, xã Cẩm V, Cẩm X, Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: Có bốn người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Cung Thị T, sinh năm 1982. Đang sinh sống tại Thôn Đông V, xã Cẩm V, Cẩm X, Hà Tĩnh. Các con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2021 đến nay, hiện đang trú tại Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

(có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm 1953. Nghề nghiệp: Hưu trí. Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan: Anh Trần Q, sinh năm 1982. HKTT: TDP 8, phường Nam H, thị xã Hồng L, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 02 Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu Trường C, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn M là thợ sơn đang sơn nhà cho gia đình bà Trần Thị L ở tổ dân phố 4, thị trấn H, huyện H. Biết được công trình này ban đêm không có người trông coi và chìa khoá bà L thường để trên trụ cổng bên phải, nên khoảng 19 giờ ngày 05/12/2021, Nguyễn Văn M điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER, biển kiểm soát 38F1 - 020.80 đến nhà bà Trần Thị L rồi lấy chìa khóa mở cửa đi vào gian phòng lồi xách 01 thùng sơn JOTUN (loại 18 kg), trên Đ trở ra M lấy thêm một chiếc khoan bê tông, nhãn hiệu “HUGONG ZHI ZAO” cùng đưa ra để trước xe môtô; M quay lại khóa cổng, để chìa khóa về vị trí cũ rồi điều khiển xe môtô 38F1 - 020.80 chở thùng sơn và chiếc khoan nói trên về cất dấu tại nhà bà Nguyễn Thị Đ (bà nội M) ở cùng Thôn Đông V, xã Cẩm V, huyện Cẩm X (nhà này hiện không có người ở và do gia đình M quản lý).

Vì nghĩ rằng một thùng sơn thì không đủ sử dụng nên khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn M nói với em trai là Nguyễn Hữu Trường C, sinh năm 2002, trú cùng Thôn Đông V, xã Cẩm V rằng “Anh đang sơn nhà ở thị trấn H, mà người ta bán rẻ lại cho mấy thùng sơn, Tết về sơn lại nhà cho bố mẹ, nhưng không chở được nên em đi cùng với anh ra ta chở về”; Nguyễn Hữu Trường C tin lời M nói nên đồng ý rồi cùng với M điều khiển xe môtô 38F1 - 020.80 quay lại nhà bà Trần Thị L, C đứng đợi bên ngoài còn M lấy chìa khóa, mở cổng vào gian phòng lồi xách hai thùng sơn JOTUN (loại 15 kg) đưa ra xe. Sau đó, M quay lại khóa cổng, để chìa khóa vào vị trí cũ rồi cùng C điều khiển xe môtô 38F1 - 020.80 chở hai thùng sơn vừa lấy trộm được đưa về nhà M; M nói C về nghỉ, còn mình thì tiếp tục đưa hai thùng sơn này đến nhà bà Nguyễn Thị Đ cất dấu.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Trần Thị L đã làm đơn trình báo lên Công an thị trấn H. Qua điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Hà xác định được Nguyễn Văn M là đối tượng thực hiện vụ trộm cắp nói trên; tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và giao nộp ba thùng sơn cùng một chiếc khoan bê tông đã lấy trộm.

Ngày 15/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà ban hành Kết luận định giá tài sản số 49/KLĐG xác định: Tổng giá trị của 3 thùng sơn và 1 máy khoan mà Nguyễn Văn M đã lấy trộm của bà Trần Thị L có giá trị là: 12.454.500 đồng.

Vật chứng vụ án:

- Một thùng sơn màu xanh dương, hình trụ, được làm bằng nhựa cứng, đáy bằng, chiều cao 32 cm, thùng đã bị cạy nắp, bên trong đựng sơn, trên nắp và xung quanh có dòng chữ JOTUN, trên nắp có dòng chữ viết tay “Trắng ngoài”, có khối lượng 14,6 kg.

- Một thùng sơn màu tím, hình trụ, được làm bằng nhựa cứng, đáy bằng, chiều cao 32 cm, Đ kính mặt trên 30 cm, thùng đã bị cạy nắp, bên trong đựng sơn, trên nắp và xung quanh có dòng chữ “JOTUN”, trên nắp có dòng chữ viết tay “Trắng trần (trong)”, có khối lượng 14,1 kg.

- Một thùng sơn màu xanh đậm, hình trụ, được làm bằng nhựa cứng, đáy bằng, chiều cao 32 cm, Đ kính mặt trên 30 cm, thùng đã bị cạy nắp, bên trong đựng sơn, trên nắp và xung quanh có dòng chữ “JOTUN”, trên nắp có dòng chữ viết tay “màu trong (1624)”, có khối lượng 18 kg.

- Một máy khoan bê tông làm bằng kim loại, sơn màu đen - nâu, cán màu đen làm bằng nhựa cứng, có nhãn hiệu “HU GONG ZHI ZAO”, đã qua sử dụng.

- Một chiếc xe môtô, nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER, màu sơn đen, biển kiểm soát 38F1 - 020.80, số máy 5VT1 - 70173, số khung RLCJ5VT10 - 5Y070173, xe đã qua sử dụng. Kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 002326 mang tên Trần Q, do Công an thị xã Hồng L cấp ngày 19/10/2012, đối với chiếc xe môtô nói trên.

Ngày 07/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Hà đã trả lại cho bà Trần Thị L ba thùng sơn và một chiếc khoan bê tông nói trên, hiện bà L không có yêu cầu gì thêm.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER, biển kiểm soát 38F1 - 020.80 là của Nguyễn Văn M mua lại của anh Trần Q, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố 8, phường Nam H, thị xã Hồng L, tỉnh Hà Tĩnh; hiện anh Trần Q đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2 Trại giam Xuân Hà đóng ở xã Cẩm S, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh theo giấy mua bán viết tay tuy nhiên chưa sang tên đổi chủ, nay anh Trần Q không có yêu cầu gì L quan đến chiếc xe môtô này. Hiện chiếc xe môtô này cùng giấy chứng nhận đăng ký xe đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà.

Trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị L đã nhận đủ số tài sản bị lấy trộm và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn M.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 10/CT-VKS - TH, ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, tiết đầu điểm s, khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu sung công quỹ chiếc xe máy cùng với đăng ký xe là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Bị hại không có ý kiến gì tranh luận, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm, rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, vợ không có việc làm ổn định, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện làm việc, chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 05/12/2021, Nguyễn Văn M điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER, biển kiểm soát 38F1 - 020.80 đến nhà bà Trần Thị L ở tổ dân phố 4, thị trấn H, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh lấy trộm ba thùng sơn JOTUN có tổng khối lượng 43,7 kg và một chiếc khoan bê tông nhãn hiệu HU GONG ZHI ZAO đã qua sử dụng, có tổng trị giá 12.454.500 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Thạch Hà truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội nên cần được xử lý nghiêm bằng chế tài hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ lòng tham nhất thời. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Từ trước đến nay, bị cáo là một thanh niên tốt, không có vi phạm pháp luật gì.

Do vậy có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, tạo điều kiện để bị cáo có thể tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn M có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại là bà Trần Thị L đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Hà đã trả lại ba thùng sơn và một chiếc khoan bê tông cho chủ sở hữu là bà Trần Thị L.

Việc trả lại các vật chứng này của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA số lọai JUPITER, biển kiểm soát 38F1 - 020.80 là của Nguyễn Văn M mua lại của anh Trần Q, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố 8, phường Nam H, thị xã Hồng L, tỉnh Hà Tĩnh. Việc mua bán chỉ mới có giấy viết tay, chưa được sang tên đổi chủ. Anh Trần Q không có yêu cầu gì L quan đến chiếc xe môtô này.

Xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung công quỹ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Các vấn đề khác: Trong vụ án này, có Nguyễn Hữu Trường C mặc dù đi cùng bị cáo Nguyễn Văn M đến nhà bà Trần Thị L để lấy trộm tài sản. Tuy nhiên, vì tin vào lời nói dối của M nên C đã đi theo hỗ trợ anh trai mà hoàn toàn không biết mục đích trộm cắp tài sản của M. Mặc dù tại phiên tòa anh C vắng mặt nhưng tại các lời khai có trong vụ án, anh Nguyễn Hữu Trường C đều khẳng định, vì giữa C và M là quan hệ anh em trai, hơn nữa thấy M có chìa khóa vào nhà để lấy sơn nên anh C đã tin tưởng hoàn toàn vào lời nói dối của M. Vì vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Hà không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hữu Trường C là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1,2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/02/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Uỷ ban nhân dân xã Cẩm V, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER, biển kiểm soát 38F1 - 020.80 kèm theo một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 38F1 – 02080.

(Tình trạng đặc điểm các vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ