- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tấn C phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày: 08-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chí Điền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Đừng;
Ông Đỗ Thành Tiết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hòa Xuân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Hua - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Tấn C; Sinh năm: 1986, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp Bưng Lớn B, xã Tam N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1964; Có con là Phạm Thị Thảo N, sinh năm 2008; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 05/8/2021 bị Ủy ban nhân xã Tam N, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi không thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân đối với những người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế (bị cáo đã chấp hành xong quyết định); Nhân thân: Ngày 09/5/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng; Ngày 14/01/2020 bị Công an xã Tam N, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 10/10/2021 bị Cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh Trà Vinh ra Quyết đinh khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).
Người làm chứng:
1. Ông Thạch Pho L, sinh năm 1984 (vắng có đơn);
Địa chỉ: Ấp Châu H, xã Châu Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Ông Trịnh Ka V, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp Giồng L, xã Hòa Â, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1982 (vắng có đơn);
Địa chỉ: Ấp Thanh B, xã Tân B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
4. Ông Trần Văn H, sinh năm 1979 (có mặt);
5. Ông Phạm Tấn T, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Bưng Lớn B, xã Tam N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 09/8/2021 lực lượng Công an xã Tam N, huyện C gồm có ông Trịnh Ka V - Phó Trưởng Công an xã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84B1-005.93 chở ông Thạch Pho L - Trưởng Công an xã (cả hai đều mặc thường phục) tiến hành xác minh theo Kế hoạch số 10/KH-CAX, ngày 09/8/2021 của Công an xã Tam Ngãi về thông tin phản ánh của người dân trên trang ZALO Công an xã Tam Ngãi từ tài khoản “Tú Anh” (xác minh người từ vùng dịch về địa phương). Khi đến đoạn đường đal gần nhà bị cáo Phạm Tấn C ngụ ấp Bưng Lớn B, xã Tam N, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì gặp bị cáo trên đường đi nhậu về nhà. Khi nhìn thấy ông Trịnh Ka V bị cáo xác định là lực lượng Công an xã, đồng thời bị cáo cho rằng ông Ka V là người đã đánh bị cáo trước đây khi Công an xã kiểm tra và lập biên bản về hành vi “Không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia phòng chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo quy định của pháp luật”. Bị cáo chỉ mặt ông Ka V và nói “Hôm bữa mày đánh tao phải không”, nghe vậy ông Ka V dừng xe mô tô lại để hỏi rõ sự việc. Thấy vậy, bị cáo chạy vào nhà của mình lấy ná thun và nhặt đá (loại đá có kích thước 02 x 03cm) chạy ra nhắm về phía ông Ka V và ông Pho L vươn ná thun có gắn đá bắn một cái nhưng không trúng. Sau đó, bị cáo C đi vào trong nhà nằm ngủ, còn ông Ka V điều khiển xe mô tô chở ông Pho L đến chốt kiểm soát phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tại đây, ông Pho L phân công ông Trần Văn H là Công an viên xã Tam Ngãi phụ trách ấp Bưng lớn B, xã Tam Ngãi đang làm nhiệm vụ tại chốt kiểm soát phòng, chống dịch bệnh Covid-19 (ông H đang mặc trang phục Công an xã) đến nhà bị cáo C để mời bị cáo làm việc về hành vi dùng ná thun bắn người khác, cùng đi với ông H gồm có ông Pho L và ông Ka V. Khoảng 15 phút sau đến nhà bị cáo C, ông H kêu bị cáo C có ở nhà hay không, nghe tiếng ông H kêu bị cáo C biết rằng ông H đến mời làm việc. Do không muốn bị mời làm việc nên bị cáo C không trả lời, ông H tiếp tục đi vòng qua phía sau nhà để tìm. Nghe tiếng ông H tiếp tục kêu mình nên bị cáo tức giận và nảy sinh ý định dùng ná thun gắn đá bắn để đuổi ông H về, không cho trực tiếp làm việc với mình. Bị cáo lấy đoạn dây ná thun gắn vào ngón tay rồi đi ra phía sau nhà nhặt hai viên đá (loại có kích thước 02 x 03cm), nhìn thấy ông H đang mặc trang phục Công an xã đứng ở phía sau nhà của mình nên bị cáo nói “Anh đi ra đi, không là tôi bắn à”. Ông H bước tới yêu cầu bị cáo chấp hành mời về làm việc. Thấy vậy, bị cáo nhanh chóng vươn ná thun có gắn đá bắn một cái trúng vào trán của ông H nên ông H lùi lại đi ra phía trước nhà. Bị cáo đi vào trong nhà bếp lấy một cây dao (loại dao yếm) cầm trên tay chạy ra phía trước nhà đe dọa không cho ông H tiếp xúc làm việc với mình. Khi ra đến hàng ba nhà, bị cáo C quan sát thấy ông H đang đi về phía mình, bị cáo bỏ dao xuống rồi tiếp tục vươn ná thun có gắn viên đá bắn về phía ông H một cái trúng vào ngực. Thấy ông H chạy về hướng mình, bị cáo nhặt dao đưa lên cao dọa chém ông H, ông H tiến tới chụp được tay đang cầm dao của bị cáo C và hai người giằng co với nhau. Lúc này ông Ka V đang đứng ở lộ đal gần đó nhìn thấy sự việc liền chạy vào hỗ trợ ông H khống chế bị cáo C và đưa về trụ sở làm việc. Đồng thời, Công an xã Tam N tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ vật chứng có liên quan (Bút lục 121-122; 125-128; 137-142). Qua làm việc, bị cáo Phạm Tấn C đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè xác định được việc ông Thạch Pho L phân công ông Trần Văn H đến mời bị cáo C về trụ sở làm rõ sự việc là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị cáo C không chấp hành theo yêu cầu của lực lượng Công an xã khi đến làm nhiệm vụ, có hành động dùng ná thun gắn đá bắn về lực lượng làm nhiệm vụ, dùng dao tấn công gây cản trở, gây khó khăn và nguy hiểm đến tính mạng lực lượng Công an xã thực hiện nhiệm vụ.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định hành vi của bị cáo Phạm Tấn C cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngày 10/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà Vinh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Tiến hành làm việc với ông Trần Văn H và Trịnh Ka V: Trong quá trình khống chế bị cáo Phạm Tấn C thì ông Ka Vbị trầy xước nhẹ ở tay, ông H bị xây xát ở trán và ngực. Do vết thương nhẹ nên ông Ka Vvà ông H không có đến cơ sở y tế khám và điều trị thương tích, không yêu cầu giám định tỉ lệ thương tích và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 cây dao (loại dao yếm) có tổng chiều dài 39,5cm, cán dao bằng gỗ có hình trụ tròn dài 14,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, có một cạnh sắc bén, mũi bầu, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm; 01 giàn dây thun của ná thun, có tổng chiều dài 59cm (đo tại thời điểm cân bằng tự nhiên), kết cấu gồm sợi dây thun (cao su) màu vàng kết hợp với màu hồng nhạt. Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2022.
Trách nhiệm dân sự: Không có.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 07/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Phạm Tấn C về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Tấn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng thể hiện là đúng và không bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung cáo trạng.
Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa đều khai giống như lời khai đã cung cấp tại Cơ quan điều tra.
Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị: Áp dụng khoản 1, Điều 330; Điểm i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 năm xử phạt bị cáo Phạm Tấn C từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao yếm) có tổng chiều dài 39,5cm, cán dao bằng gỗ có hình trụ tròn dài 14,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, có một cạnh sắc bén, mũi bầu, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm; 01 giàn dây thun của ná thun, có tổng chiều dài 59cm (đo tại thời điểm cân bằng tự nhiên), kết cấu gồm sợi dây thun (cao su) màu vàng kết hợp với màu hồng nhạt.
Ngoài ra vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Tấn C có ý kiến tranh luận: Không có.
Bị cáo Phạm Tấn C nói lời sau cùng: “Bị cáo không có gì để nói”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét hành vi của bị cáo: Vào khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 09/8/2021 bị cáo Phạm Tấn C trên đường đi uống rượu về thì gặp ông Thạch Pho L và ông Trịnh Ka V (là Công an xã Tam Ngãi) trên đường đi công tác, bị cáo đã có hành vi dùng ná thun có gắn đá bắn ông Pho L và ông Ka Vnhưng không trúng. Sau đó, ông Trần Văn H là Công an viên xã Tam Ngãi phụ trách địa bàn ấp Bưng Lớn B, xã Tam Ngãi (ông H mặc trang phục Công an xã) được ông Pho L là Trưởng Công an xã Tam Ngãi phân công đến mời bị cáo C làm việc thì bị cáo C dùng ná thun có gắn đá bắn trúng vào trán và ngực ông H và dùng dao (loại dao yếm) tấn công gây cản trở, gây khó khăn và nguy hiểm đến tính mạng lực lượng Công an xã thực hiện nhiệm vụ. Hậu quả làm ông Trịnh Ka V và ông Trần Văn H bị thương tích nhẹ.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Phạm Tấn C về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ và trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng đều đúng với quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định và hành vi này nên các quyết định và hành vi này đều hợp pháp. Về những chứng cứ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập là hợp pháp.
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh Covid - 19 trên địa bàn tỉnh Trà vinh. Lẽ ra, bị cáo phải nghiêm chỉnh chấp hành và phối hợp với chính quyền địa phương để chung tay phòng chống dịch nhưng bị cáo không làm được vậy mà lại không tuân thủ dẫn đến bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo cho rằng trong quá trình xử phạt hành chính đối với mình thì bị cán bộ Công an xã Tam Ngãi đánh bị cáo. Lẽ ra, bị cáo phải trình báo sự việc đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu xác minh làm rõ, xử lý đối với cá nhân sai phạm để đảm bảo quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, bị cáo không làm được như vậy mà mang long thù ghét cá nhân nên khi bị cáo biết là lực lượng Công an xã đến mời bị cáo để làm việc thì bị cáo không những không chấp hành mà lại có hành vi dùng ná thun gắn đá bắn và dao tấn công lực lượng Công an dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường trong việc giải quyết vụ việc hành chính của lực lượng Công an. Đồng thời, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự tại địa phương nơi bị cáo gây án. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bác ruột là ông Phạm Văn Tư được công nhận là Liệt sĩ. Vì vậy cần áp dụng các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 cây dao (loại dao yếm) có tổng chiều dài 39,5cm, cán dao bằng gỗ có hình trụ tròn dài 14,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, có một cạnh sắc bén, mũi bầu, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm và 01 giàn dây thun của ná thun, có tổng chiều dài 59cm (đo tại thời điểm cân bằng tự nhiên), kết cấu gồm sợi dây thun (cao su) màu vàng kết hợp với màu hồng nhạt. Đây là các công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bản luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tấn C phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 330; Điểm i và điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Tấn C 06 (sáu) tháng tù, thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao (loại dao yếm) có tổng chiều dài 39,5cm, cán dao bằng gỗ có hình trụ tròn dài 14,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, có một cạnh sắc bén, mũi bầu, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm và 01 giàn dây thun của ná thun, có tổng chiều dài 59cm (đo tại thời điểm cân bằng tự nhiên), kết cấu gồm sợi dây thun (cao su) màu vàng kết hợp với màu hồng nhạt.
Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tấn C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Tấn C được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Kè; - Công an huyện Cầu Kè; - CCTHADS huyện Cầu Kè; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Chí Điền |