- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS-ST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày: 24-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Xuân Cường
Ông Phan Công Lợi
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị C - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/HSST ngày 26/01/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 09/02/2022 đối với:
* Bị cáo: Đặng Đình T, sinh ngày: 01/01/1993, tại thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố 6, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Đặng Đình Đ, sinh năm 1968 và con bà Trần Thị Đ, sinh năm 1969, trú tại tổ dân phố 6, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 10/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 04/2020/HSST; đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 12/03/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/03/2020, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/11/2021, đến ngày 16/11/2021 chuyển áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Xuyên. Ngày 13/12/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Thanh M, sinh năm 1985 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung T trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh Có mặt
* Người bị hại:
- Chị Dương Thị T, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1943; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lái xe; Trú tại: Tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Công nhân; Trú tại: Tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Chị Phan Thị H, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Vân C, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trú tại: Tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1958; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Chị Lê Thị T, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trú tại: Tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Anh Trần Quốc N, sinh năm 1984; Nghề nghiệp: Cán bộ; Trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Anh Đặng Đình T, sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Cán bộ; Trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
- Anh Ngô Đức T, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: TDP 9, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Đình N, sinh năm 1996; Nghề nghiệp; Lao động tự do; Trú tại: TDP 6, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt
- Anh Trần Anh D, sinh năm 1984; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trú tại: Tổ dân phố 13, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh Vắng mặt
* Người làm chứng: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1969; Trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 10/11/2021, Đặng Đình T sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX biển kiểm soát 38N3- 39..., đi dọc theo các tuyến đường thuộc khu vực thị trấn Cẩm Xuyên để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản. Khi rẽ vào ngõ 17 đường Nguyễn Biên thuộc tổ dân phố 13, thị trấn Cẩm Xuyên. Quan sát xung quanh không có người, T đẩy xe cất giấu xe rồi đi bộ vào phía sâu bên trong ngõ. Khi tới trước nhà gia đình anh Lê Thành S thấy 01 chiếc loa kéo để ở trước sân, cửa chính cổng khóa nên đã trèo qua tường rào nhảy vào trong sân nhà anh S. T kéo chiếc loa lại tường rào gần vị trí đột nhập vào ban đầu và bưng loa ra ngoài. Sau đó, đưa chiếc loa ra dùng xe mô tô chở về nhà cất giấu. Cùng ngày, anh Ngô Đức T phát hiện bị mất trộm chiếc loa nên đã trình báo sự việc cho cơ quan Công an huyện Cẩm Xuyên. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc loa đã chiếm đoạt.
Chiếc loa kéo nói trên là của anh Ngô Đức T, trú tại tổ dân phố 9, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên mượn chị Nguyễn Thị H về để sử dụng và gửi tại nhà gia đình anh Lê Thành S.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 14/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Cẩm Xuyên xác định: 01 chiếc loa kéo Blutooth nhãn hiệu JAGUMAX, ốp phía sau loa được làm bằng chất liệu nhựa COMPOSITE màu ghi, phía trước loa làm bằng lưới sắt màu vàng, chiều cao 75 cm, rộng 43 cm, giá trị còn lại là 3.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Đặng Đình T khai nhận ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 8/2020 đến đầu tháng 8/2021 đã thực hiện 11 lần trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Rạng sáng ngày 17/8/2020, Đặng Đình T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 38N1-3941 đi dọc các tuyến đường thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Cẩm Xuyên, khi đến nhà chị Dương Thị T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T trèo qua hàng rào nhà chị T đi vào trong, T mở cửa sổ thò tay vào bên trong lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A6. Trên đường về, T lấy điện thoại vừa trộm được ra xem thấy điện thoại cài mật khẩu nên đã đập vỡ và vứt lại bên lề đường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A6, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 1.000.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 03 giờ sáng ngày 26/10/2020, Đặng Đình T đi dọc tuyến đường thuộc tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm Xuyên, thấy nhà anh Nguyễn Văn T cửa chính khép hờ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T trèo qua hàng rào đột nhập vào phòng ngủ lục tìm trong túi áo để trên bàn lấy một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ 3: Khoảng 21 giờ ngày 10/2/2021, T đi xe mô tô biển kiểm soát 38N3- 39... từ nhà của mình lên tổ dân phố 2, thị trấn Cẩm Xuyên. Khi cách Hội trường tổ dân phố khoảng 20-30 mét, T phát hiện nhà anh Trần Quốc N, phía sau nhà đèn đang sáng nên đẩy xe vào bên trong hội trường cất giấu. T trèo qua tường rào nhà anh N đi vào trong. T đến chổ chiếc tủ quần áo để trong phòng ngủ, thấy trên tay nắm cửa cánh tủ có treo một chiếc quần, T lục tìm lấy trộm 29.000.000 đồng, số tiền trên T đã tiêu xài hết.
Vụ thứ 4: Vào khoảng 21 giờ ngày 11/02/2021, T đi bộ dọc tuyến đường thuộc tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm Xuyên thấy nhà anh Trần Văn H cửa khép hờ không khóa, không có ai ở nhà. T vào phòng ngủ lấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95 đang sạc trên bàn rồi tiếp tục lục trong chiếc quần treo ở ghế lấy 800.000 đồng. Trên đường về, mở điện thoại ra kiểm tra nhưng cài mật khẩu không mở được nên T đập vỡ vứt lại bên đường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A95 màu trắng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 3.000.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản và tiền mà Đặng Đình T đã chiếm đoạt của anh Trần Văn H là 3.800.000 đồng. Số tiền trên, T đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ 5: Khoảng 3 giờ sáng ngày 13/3/2021, Đặng Đình T đi bộ dọc tuyến đường ở tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm Xuyên thấy nhà bà Trần Thị C cửa khép hờ, T lẻn vào nhà lấy 02 chiếc điện thoại (01 chiếc nhãn hiệu ASUS và 01 chiếc điện thoại Nokia 105). Sáng cùng ngày, T đem 02 chiếc điện thoại nói trên bán cho anh Trần Anh D chủ cửa hàng điện thoại D Bích với số tiền 350.000 đồng. Khi bán T nói là điện thoại của mình. Số tiền này T chi tiêu cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại ASUS ZB501KL màu vàng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng giá trị còn lại là 800.000 đồng; 01 chiếc điện thoại NOKIA 105, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 100.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản mà Đặng Đình T đã chiếm đoạt của bà Trần Thị C là 900.000 đồng.
Vụ thứ 6: Rạng sáng ngày 15/4/2021, Đặng Đình T đi bộ dọc theo tuyến đường thuộc tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm Xuyên rồi đột nhập vào nhà chị Lê Thị T để trộm tài sản. T lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S đang sạc ở chân giường. Sau đó T bán chiếc điện thoại cho anh Trần Anh D với số tiền 400.000 đồng. Khi bán chiếc điện thoại T nói là điện thoại của mình. Số tiền bán điện thoại T đã tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S màu đỏ, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 1.000.000 đồng.
Vụ thứ 7: Rạng sáng ngày cuối tháng 4/2021, Đặng Đình T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38N3-3... đi dọc các tuyến đường thuộc tổ 15, thị trấn Cẩm Xuyên tìm nhà các hộ dân sơ hở có tài sản để trộm. Khi đến nhà của gia đình chị Phan Thị H, T trèo qua hàng rào để vào nhà. Sau đó tới phòng ngủ lấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A7. T bán chiếc điện thoại này cho anh Trần Anh D với số tiền 400.000 đồng. Khi bán T nói với anh D là điện thoại của mình. Số tiền bán điện thoại T đã tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A7 màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, trị giá còn lại là 1.900.000 đồng.
Vụ thứ 8: Khoảng 3 giờ sáng ngày 03/5/2021, Đặng Đình T đi bộ dọc tuyến đường thuộc thị trấn Cẩm Xuyên. Trên đường đi qua tổ dân phố 1, thị trấn Cẩm Xuyên thấy nhà bà Hoàng Thị C có thể đột nhập được nên T đã trèo tường rào đi vào nhà. T vào phòng ngủ bà C lục tìm trong chiếc áo treo trên móc khóa tủ lấy trộm 4.500.000 đồng. Tiếp đó mở tủ đồ dưới nhà bếp thấy có một hộp bằng kim loại, T mở ra lấy trộm 5.000.000 đồng cùng 02 chiếc nhẫn tròn vàng loại 9999, khối lượng mỗi chiếc nhẫn là một chỉ. Sau khi lấy trộm được 02 chiếc nhẫn trên do sợ khi đi bán bị phát hiện nên T đã vứt xuống hồ nước. Còn lại tiền mặt thì T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 02 chiếc nhẫn vàng loại 9999, khối lượng mỗi nhẫn là một chỉ, giá trị còn lại là 10.200.000 đồng. Tổng trị giá tiền và tài sản Đặng Đình T chiếm đoạt của bà Hoàng Thị C là 19.700.000 đồng
Vụ thứ 9: Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp ở nhà gia đình bà Hoàng Thị C, Đặng Đình T tiếp tục đột nhập sang nhà gia đình chị Trần Thị Thanh T (bên cạnh nhà bà C , thấy nhà chị T khóa không chặt nên mở cổng đi vào phòng khách. T đi vào phòng ngủ lục trong ví da lấy số tiền 1.800.000 đồng. Số tiền nói trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ 10: Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 24/7/2021, Đặng Đình T đi bộ xuống tổ dân phố 4, thị trấn Cẩm Xuyên để tìm nhà dân lấy trộm tài sản. Khi đi đến nhà gia đình anh Đặng Đình T, T trèo qua hàng rào đi vào trong. Sau đó đi theo lối cửa chính vào trong phòng ngủ thấy lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31. Trên đường về T lấy chiếc điện thoại vừa trộm được ra kiểm tra, thấy cài mật khẩu nên đã đập vỡ vứt bên lề đường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A31, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 3.900.000 đồng
Vụ thứ 11: Rạng sáng một ngày đầu tháng 8/2021, Đặng Đình T đi dọc tuyến đường thuộc tổ dân phố 15, thị trấn Cẩm Xuyên, khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị Vân C T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đột nhập vào nhà theo lối cửa phòng bếp đi lên phòng ngủ lấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAM SUNG J6. Sáng cùng ngày, T bán chiếc điện thoại nêu trên cho anh Trần Anh D với giá 300.000 đồng, khi bán chiếc điện thoại T có nói với anh D là của mình. Số tiền bán điện thoại, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 900.000 đồng.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX, màu sơn nâu, số khung MN7A041430, số máy 70041430, biển kiểm soát 38N3-3... do Đặng Đình T sử dụng làm phương tiện phạm tội có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 018920, mang tên Trần Văn M; địa chỉ: Xã Thái Y, huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh, do Công an tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 07/01/2008. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nói trên đã được anh Mạnh bán cho anh Đặng Đình N Em ruột của T), anh N chưa sang tên, đổi chủ sở hữu phương tiện theo quy định. Vì vậy, xác định anh Đặng Đình N là chủ sở hữu.
* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX, màu sơn nâu, biển kiểm soát 38N3-3..., xe đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mang tên Trần Văn Mạnh, nhãn hiệu HUNDAX, biển kiểm soát 38N3-3..., thu của Đặng Đình T.
- 01 chiếc loa kéo Bluetooth nhãn hiệu JAGUMAX, thu của Đặng Đình T, đã trả cho anh Ngô Đức T.
Đối với 01 chiếc USB có vỏ nhựa màu đỏ, trên vỏ có tem của cửa hàng FPT, có dòng chữ DT102G2, 8GB mặt dưới có dòng chữ nổi Kingston, lưu giữ hình ảnh Camera, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm các vật chứng liên quan đến vụ án, nhưng không thu giữ được, cụ thể:
- Đối với 05 chiếc điện thoại di động (01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A95 màu trắng; 01 chiếc nhãn hiệu ASUS màu vàng; 01 chiếc điện thoại Nokia 105; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S màu đỏ; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A7) là tang vật của vụ án. Sau khi Đặng Đình T chiếm đoạt của các bị hại đã bán cho Trần Anh D và anh D đã bán lại cho một số người không rõ họ tên, địa chỉ nên không thu giữ được.
- Đối với 02 chiếc nhẫn vàng loại 9999, khối lượng mỗi nhẫn là một chỉ, sau khi lấy trộm của bà Hoàng Thị C, do sợ khi bán sẽ bị phát hiện nên T đã vứt xuống hồ nước cạnh nhà.
- Đối với 03 chiếc điện thoại di động 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A6; 01 chiếc điện thoại trên nhãn hiệu OPPO A31; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A95) sau khi lấy trộm được do cài mật khẩu nên T đã đập vỡ và vứt lại bên lề đường.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Ngô Đức T sau khi nhận lại tài sản đã có đơn từ chối bồi thường dân sự.
Những người bị hại bị chiếm đoạt tiền và tài sản chưa được bồi thường đã có đơn yêu cầu Đặng Đình T bồi thường thiệt hại, cụ thể: Chị Dương Thị T yêu cầu bồi thường 1.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường 500.000 đồng; anh Trần Quốc N yêu cầu bồi thường 29.000.000 đồng; anh Trần Văn H yêu cầu bồi thường 3.800.000 đồng; bà Trần Thị C yêu cầu bồi thường 900.000 đồng; chị Lê Thị T yêu cầu bồi thường 1.000.000 đồng; chị Phan Thị H yêu cầu bồi thường 1.900.000 đồng; bà Hoàng Thị C yêu cầu bồi thường 19.700.000 đồng; chị Trần Thị Thanh T yêu cầu bồi thường 1.800.000 đồng; anh Đặng Đình T yêu cầu bồi thường 3.900.000 đồng; chị Nguyễn Thị Vân C yêu cầu bồi thường 900.000 đồng.
Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSCX ngày 26/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Đặng Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Đình T mức án từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/11/2021; Về xử lý vật chứng: Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX, biển kiểm soát 38N3-3... và 01 giấy đăng ký xe mang tên Trần Văn Mạnh cho anh Đặng Đình N; Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về hành vi, tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, điều kiện hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất có thể; gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:
Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2020 đến ngày 10/11/2021, tại địa bàn thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Đặng Đình T lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản, 12 lần lén lút chiếm đoạt 08 chiếc điện thoại di động; 02 nhẫn vàng loại 9999; 01 chiếc loa kéo Bluetooth nhãn hiệu JAGUMAX và 41.600.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành của 12 bị hại, gồm: Chị Dương Thị T, anh Nguyễn Văn T, anh Trần Quốc N, anh Trần Văn H, bà Trần Thị C, chị Lê Thị T, chị Phan Thị H, bà Hoàng Thị C, chị Trần Thị Thanh T, anh Đặng Đình T, chị Nguyễn Thị Vân C và anh Ngô Đức T. Tổng giá trị tài sản T đã chiếm đoạt là 67.400.000 đồng, trong đó: 05 lần chiếm đoạt tài sản, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, với tổng giá trị 59.400.000 đồng và 07 lần chiếm đoạt tài sản, mỗi lần dưới 2.000.000 đồng, với tổng trị giá 8.000.000 đồng. Trong vụ án này chỉ một mình Đặng Đình T thực hiện.
Hành vi trên của Đặng Đình Điệp đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đặng Đình T phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Tái phạm” theo quy định tại Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định Điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản rồi 12 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, với tổng số tiền 67.400.000 đồng. Mặt khác, bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Ngô Đức T sau khi nhận lại tài sản đã có đơn từ chối bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền và tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại chưa bồi thường. Nay các bị hại có đơn yêu cầu bồi thường, vì vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại, cụ thể: Bồi thường cho chị Dương Thị T số tiền 1.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng; anh Trần Quốc N số tiền 29.000.000 đồng; anh Trần Văn H số tiền 3.800.000đồng; bà Trần Thị C số tiền 900.000 đồng; chị Lê Thị T số tiền 1.000.000 đồng; chị Phan Thị H số tiền 1.900.000 đồng; bà Hoàng Thị C số tiền 19.700.000đồng; chị Trần Thị Thanh T số tiền 1.800.000đồng; anh Đặng Đình T số tiền 3.900.000đồng; chị Nguyễn Thị Vân C số tiền 900.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của các bị hại.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX, mang biển kiểm soát 38N3-3... do Đặng Đình T sử dụng làm phương tiện phạm tội, được xác định chủ sở hữu là anh Đặng Đình N. Qúa trình bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội anh N không biết. Vì vậy, cần trả lại chiếc xe này cho anh Đặng Đình N.
Đối với 01 chiếc USB lưu giữ hình ảnh Camera, chuyển theo hồ sơ vụ án nên cần lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Đối với Trần Anh D, người đã mua 05 chiếc điện thoại do bị cáo Đặng Đình T bán. Quá trình điều tra xác định khi mua anh D không biết những tài sản trên là do T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý đối với Trần Anh D.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38N3-3..., nhãn hiệu HUNDAX, chủ sở hữu Đặng Đình N (Em ruột của T . Quá trình điều tra xác định việc Đặng Đình T sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội anh N không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với anh N.
Đối với bà Trần Thị Đ mẹ đẻ T), khi Đặng Đình T trộm cắp tài sản đem về cất giấu tại phòng ngủ, bà Đính không biết nên không có căn cứ để xử lý.
Đặng Đình T đã thực hiện 12 lần phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra xác định nghề nghiệp của T là lao động tự do, đi làm bốc vác, phụ hồ, trồng cây có thu nhập, khi ở nhà phụ giúp gia đình lao động sản xuất. Mục đích phạm tội không phải để làm nguồn sinh sống chính mà chỉ thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, không có căn cứ xác định Đặng Đình T phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo cho.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/11/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đặng Đình T phải bồi thường cho các bị hại, cụ thể như sau:
- Bồi thường cho chị Dương Thị T số tiền 1.000.000 đồng Một triệu đồng ;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng Năm trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho anh Trần Quốc N số tiền 29.000.000 đồng Hai mươi chín triệu đồng ;
- Bồi thường cho anh Trần Văn H số tiền 3.800.000đồng Ba triệu tám trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho bà Trần Thị C số tiền 900.000 đồng Chín trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho chị Lê Thị T số tiền 1.000.000 đồng Một triệu đồng ;
- Bồi thường cho chị Phan Thị H số tiền 1.900.000 đồng Một triệu chín trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho bà Hoàng Thị C số tiền 19.700.000đồng (Mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho chị Trần Thị Thanh T số tiền 1.800.000đồng Một triệu tám trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho anh Đặng Đình T số tiền 3.900.000đồng Ba triệu chín trăm nghìn đồng ;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Vân C số tiền 900.000đồng Chín trăm nghìn đồng .
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho anh Đặng Đình N (Trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh) 01 Một) xe mô tô nhãn hiệu HUNDAX, màu sơn nâu, số khung MN7A041430, số máy 70041430, mang biển kiểm soát 38N3-3..., xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 Một giấy đăng ký xe mang tên Trần Văn Mạnh, nhãn hiệu HUNDAX, số khung MN7A041430, số máy 70041430, mang biển kiểm soát 38N3-3....
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/01/2022 giữa ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Cục thi hành án dân sự tỉnh huyện Cẩm Xuyên).
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Đặng Đình T.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm Xuyên; - Công an huyện Cẩm Xuyên; - THA.HS Công an huyện Cẩm Xuyên; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |