- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ QUÝ - LỘC"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Bùi Q. Xử anh Bùi Q được ly hôn với chị Thái Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ - ST Ngày: 21/12/2022 "V/v Kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Sỹ Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thảo
2. Bà Đồng Thị Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 21/12/2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST - HNGĐ ngày 13/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXX - ST ngày 21/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2022/QĐST - HNGĐ ngày 07/12/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Bùi Q - Sinh năm 1991 (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Thái Thị L - Sinh năm 1996 (vắng mặt).
Đều trú tại: Tổ dân phố 3, phường Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 28/9/2022 và bản tự khai ngày 31/10/2022 nguyên đơn anh Bùi Q trình bày như sau: Giữa nguyên đơn và bị đơn chị Thái Thị L đăng ký kết hôn ngày 21/9/2017, tại UBND phường Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc, hôn lễ được tổ chức theo truyền thống địa phương và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới anh Q và chị L về sống với nhau hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, thời điểm anh Q làm đơn ra Tòa xin ly hôn với chị L thì hai người đã sống ly thân với nhau. Theo anh Q trong cuộc sống giữa anh và chị có nhiều quan điểm sống khác nhau, chị Lộc không tu chí làm ăn, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Sự việc của anh chị đã được gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không đi đến kết quả gì. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn anh Bùi Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Thái Thị L.
Về con chung: Anh Bùi Q trình bày anh và chị Lộc có 01 con chung cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 14/7/2018; từ nhỏ sống với vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh Q vẫn giữ nguyên quan điểm và có nguyện vọng là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Nhật D và không yêu cầu chị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hai vợ chồng không nợ ai và ngược lại.
Theo quy định của pháp luật, Tòa án đã Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo và ấn định thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về các nội dung của vụ án, nhưng tại tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh Q có mặt, chị L vắng mặt vì vậy phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không tiến hành được, nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lưu vào hồ sơ để có căn cứ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Việc anh Quý làm đơn xin được ly hôn với chị L là thuộc quyền của công dân được pháp luật quy định, anh Q đã cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc khởi kiện của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn khởi kiện của anh Q có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi đương sự cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên nhân dẫn đến việc anh Quý làm đơn xin ly hôn là hai người có quan điểm sống khác nhau, không có sự bình đẳng trong cuộc sống, chị L bỏ bê công việc, không chăm lo đến cuộc sống gia đình. Khi sự việc đó xảy ra gia đình anh em nội ngoại đã hòa giải cũng như khuyên bảo như không có kết quả, trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, anh Q vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là xin được ly hôn với chị L. HĐXX thấy rằng anh Q và chị L sống ly thân với nhau đã một thời gian khá dài từ tháng 7 năm 2022 đến nay, giữa hai người không còn tình cảm, nếu sống với nhau chỉ là hình thức không có hạnh phúc thực sự, hôn nhân không thể đạt được nên hạnh phúc không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, việc hai vợ chồng có tiếng nói chung, trở về đoàn tụ với nhau là không thể. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh Q đối với chị L. Điều đó phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Q có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 14/7/2018 và không yêu cầu chị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q. HĐXX thấy rằng cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 14/7/2018 lâu nay sống cùng chị L và anh Q, việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, việc giao cháu Bùi Nhật D cho anh Q hay chị L chăm sóc nuôi dưỡng là điều cần thiết, qua ý kiến của anh Q quá trình giải quyết vụ án thấy rằng, chị L là lao động tự do thu nhập không ổn định, việc chị Lộc trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con cái là hết sức hạn chế. Anh Q tuy không phải là cán bộ công nhân viên nhà nước nhưng hiện tại anh Q có công ăn việc làm ổn định là nhân viên kinh doanh tại Công ty TNHH Huyên Quân, địa chỉ tại: 155 đường Trần Phú, tổ dân phố 1, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, với tổng thu nhập là 10.200.000 đồng một tháng, nên anh Q có đủ điều kiện để chăm sóc con cái, việc cháu Bùi Nhật D ở với anh Q sẽ tốt hơn cho sự phát triển và học hành của cháu. Nên giao cháu Bùi Nhật D sinh ngày 14/7/2018 cho anh Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở, điều đó phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Q không yêu cầu chị Lộc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q. HĐXX thấy rằng ý kiến của anh Q là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, khả năng về kinh tế của anh Q đảm bảo cho việc nuôi con. Nên HĐXX chấp nhận ý kiến đó của anh Q.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị nhưng chị L không có mặt ở nhà, vì vậy Tòa án lập biên bản về việc không tống đạt được và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 21 tháng 11 năm 2022 Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 21/11/2022, ấn định thời gian mở phiên Tòa vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 07/12/2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh. Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt cho chị L nhưng chị L không có mặt ở nhà, Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và sau đó tiến hành niêm yết tại tổ dân phố 3 và trụ sở UBND phường Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Đến ngày giờ địa điểm như trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã nêu, phiên Tòa được diễn ra, tại phiên Tòa anh Q có mặt, chị L vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do vì vậy HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, điều đó phù hợp và được quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST - HNGĐ, ngày 07/12/2022 và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 21/12/2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi ban hành Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án đã tống đạt cho chị L nhưng chị L không có mặt ở nhà. Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và sau đó tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa tại tổ dân phố 3 và trụ sở UBND phường Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Tại phiên Tòa hôm nay, anh Q có mặt chị Lộc tiếp tục vắng mặt vì vậy HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Lộc.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Về án phí: Buộc anh Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Bùi Q. Xử anh Bùi Q được ly hôn với chị Thái Thị L.
2. Về con chung: Căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình: Giao cháu Bùi Nhật D, sinh ngày 14/7/2018 cho anh Bùi Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Thái Thị L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Bùi Q. Chị Thái Thị L có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Bùi Q phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, anh Q đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004320 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Thái Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - - VKSND TX Hồng Lĩnh; - - CCTHADS TX Hồng Lĩnh; - - Nguyên đơn, bị đơn; - - Lưu Hs,VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Sỹ Nam |