- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị L khởi kiện ly hôn đối với ông Lê Công T."
- Tòa quyết gì? * Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Công T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ - ST Ngày: 12- 4- 2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thy Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đích.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thƣơng – Thư ký Tòa án của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/QĐST-HPT ngày 25 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1992.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 21, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở hiện nay: Số 192/64 Đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Lê Công T, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Tổ 21, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Lê Công T vào năm 2015, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do ông Lê Công T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, xích mích, nói năng không tôn trọng nhau. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Lê Công T vẫn không thay đổi. Mâu thuẩn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Do mâu thuẩn vợ chồng xảy ra nên bà và ông Lê Công T sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả, vì vậy bà xin được ly hôn với ông Lê Công T.
- Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị L xác định bà và ông Lê Công T không có con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị L xác định không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị L xác định không có nợ chung.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lê Công T đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án ly hôn nhưng ông Lê Công T không đến Tòa án nên không ghi được lời trình bày.
* Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Công T. Đề nghị HĐXX tuyên xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Công T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị L xác định bà và ông Lê Công T không có con chung nên không đê cập đến.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị L xác định không có. Ông Lê Công T không có lời khai nên không xác định tài sản chung và nợ chung, do đó không đề cập đến. Nếu sau này có tranh chấp thì ông Lê Công T, bà Nguyễn Thị L có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Đây là vụ án Ly hôn. Bị đơn ông Lê Công T đang cư trú tại tổ 21, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Lê Công T nhưng tại phiên tòa ông Lê Công T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt bị đơn ông Lê Công T.
Về nội dung vụ án:
[3] Bà Nguyễn Thị L và ông Lê Công T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường M, quận S, Tp Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẩn theo bà Nguyễn Thị L trình bày là do ông Lê Công T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, xích mích, nói năng không tôn trọng nhau. Bà Nguyễn Thị L đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Lê Công T vẫn không thay đổi, tiếp tục tái diễn. Mâu thuẩn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà bà Nguyễn Thị L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn được nữa nên nguyện vọng của bà xin được ly hôn ông Lê Công T. Còn bị đơn ông Lê Công T mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông vắng mặt không có lý do.
[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Công T nhiều lần để hoà giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông Lê Công T không chấp hành. Điều này thể hiện ông Lê Công T vừa coi thường pháp luật, vừa thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, bản thân ông Lê Công T không còn thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình với bà Nguyễn Thị L nữa, mặt khác mâu thuẩn vợ chồng mà bà Nguyễn Thị L trình bày cũng phù hợp với các thông tin mà chính quyền địa phương nơi ông, bà đang cư trú cung cấp. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn vợ chồng ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà Nguyễn Thị L là phù hợp.
[6] Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị L xác định bà và ông Lê Công T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lê Công T vắng mặt không ghi được lời khai nên không xác định được khối tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là có hay không, do đó HĐXX thấy cần phải tách phần tài sản chung và nợ chung không giải quyết. Nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì Toà án có thẩm quyền sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[8] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà Nguyễn Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Công T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Công T.
2. Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000đồng bà Nguyễn Thị L phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng biên lai thu số 0003057 ngày 15 tháng 11 năm 2021.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - UBND phường M, quận S; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Thy Tuyết |