- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-01-2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Lê Đình Khôi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2021, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trƣơng Thị Tuyết M, sinh năm 1949
Hộ khẩu thường trú: Số nhà X, đường XX, tổ Y, ấp YY, xã PA, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Phạm Thành C, sinh năm 1946
Hộ khẩu thường trú: Số nhà X, đường XX, tổ Y, ấp YY, xã PA, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ X, ấp Y, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Tuyết M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông C kết hôn tự nguyện từ năm 1986, có đăng ký kết hôn số 14 ngày 27-6-2003 tại Ủy ban nhân dân xã PA, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông C có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng bà không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Ngoài ra ông còn đánh bà với sự chứng kiến của người thân gia đình. Hiện nay ông C đã bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn đối với ông Phạm Thành C.
- Về nuôi con: Bà M trình bày bà và ông C 02 con chung là Phạm Thị Bích T, sinh ngày 27/12/1989 và Phạm Hiếu N, sinh ngày 20/12/1988. Con chung đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M trình bày bà và ông C không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông C không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được nên không thu thập được lời khai của bị đơn.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M. Về hôn nhân: Cho bà M được ly hôn với ông C. Về con chung: Đương sự trình bày con chung đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên không đề nghị xem xét. Đề nghị về tài sản chung, nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp. Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Bị đơn ông Phạm Thành C có nơi cư trú tại xã PA, huyện TP nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà Trương Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông C. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự bà M là nguyên đơn và ông C là bị đơn, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà M và ông C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27-6-2003 tại Ủy ban nhân dân xã PA, huyện TP, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Tại các biên bản xác minh ngày 01/12/2021 về mâu thuẫn vợ chồng thể hiện ông C có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và có hành vi đánh bà nên hai người đã không còn chung sống từ tháng 10-2020 cho đến nay. Ông C đã bỏ địa phương đi, tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn trở về địa phương. Bản thân ông C đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến bà M, không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án như trên phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, bà M và ông C đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 85, 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
- Về nuôi con: Bà M và ông C có 02 con chung là Phạm Thị Bích T, sinh ngày 27/12/1989 và Phạm Hiếu N, sinh ngày 20/12/1988. Các con chung đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông C không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 85, 89, 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Tuyết M.
- Về hôn nhân: Cho bà Trương Thị Tuyết M được ly hôn với ông Phạm Thành C.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Phạm Thị Bích T, sinh ngày 27/12/1989 và Phạm Hiếu N, sinh ngày 20/12/1988. Các con chung đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung và nợ chung của các đương sự sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
2. Về án phí: Bà M là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA DS huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã PA, huyện TP (Số 14-2003, ngày 27-6-2003) để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |