vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Lương Anh M ly hôn anh Nguyễn Hải Đ.

Về nuôi con: Giao hai con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2018 cho chị Lương Anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lương Anh M ly hôn anh Nguyễn Hải Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày 05-8-2022
V/v ly hôn giữa chị M và anh Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Ngọc.

Ông Nguyễn Hữu Tỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Thương, là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Lương Anh M, sinh năm 1990.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1985.

Cùng nơi cư trú: thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa chị M và anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lương Anh M trình bày:

Chị M và anh Đ đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 7 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Đ.

Về con chung: Giữa chị M và anh Đ có hai con chung tên là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2018. Sau khi ly hôn, chị M có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Chị M và anh Đ sẽ tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Giữa chị M và anh Đ không có tài sản chung.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Hải Đ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được triệu tập hợp lệ nhưng anh Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng và không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị M vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh Đ.

Về hôn nhân: Giữa chị M và anh Đ kết hôn với nhau tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 7 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ chồng chị M, anh Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng. Hiện tại, chị M và anh Đ đã sống ly thân không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau nữa. Như vậy, chị M, anh Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc giải quyết cho chị M ly hôn anh Đ là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giữa chị M và anh Đ có hai con chưa thành niên tên là Nguyễn Minh Q và Nguyễn Phúc K, hiện tại hai con đang sống cùng với mẹ. Chị M có đề nghị được nuôi cả hai con sau khi ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đến Tòa án, không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, xem xét nguyện vọng của chị M, hai con Q và K được giao cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng cho con: Chị M là người trực tiếp nuôi con nhưng việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Anh Đ là người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ, quyền thăm nom con quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị M trình bày là không có và không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Chị M có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị M và anh Đ có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vĩ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lương Anh M ly hôn anh Nguyễn Hải Đ.

2. Về nuôi con: Giao hai con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2018 cho chị Lương Anh M trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và tài sản chung: không giải quyết.

3. Về án phí: Chị Lương Anh M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự mà chị M đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0004006 ngày 10 tháng 5 năm 2022.

4. Về quyền kháng cáo: Chị M và anh Đ có quyền kháng cáo đối với bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ