- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dung Thiệp"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D đối với anh Bùi Văn T về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-01-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.
Hội Thẩm Nhân Dân:
1. ông Bùi Văn Tấn
2. ông Quách Văn Tới
- Thư ký phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Đinh Thế Tâm- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2021/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2021 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/12/2021 giữa:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị D, sinh năm 1983. Địa chỉ: xóm Chạo Nạc, xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
- Bị đơn: anh Bùi Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: xóm Chạo Nạc, xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau tháng 01/2005 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sống với nhau đến tháng 11/2019 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do do tính tình không hợp nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, không tin tưởng và không còn tình cảm dành cho nhau nên chị Dung xin ly hôn để yên tâm ổn định cuộc sống và nuôi dậy con cái.
2. Về con chung: Chị Dung và anh Thiệp có 02 con chung là Bùi Thị Huyền Trang, sinh ngày 01/03/2006 và Bùi Anh Huy, sinh ngày 03/09/2012 hiện các con cùng ở với vợ chồng chị Dung, anh Thiệp. Khi ly hôn, chị Dung xin trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trang và cháu Huy cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Dung chưa yêu cầu anh Thiệp có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với chị.
3. Về tài sản chung; Công nợ chung: chị Dung khai không có nên không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra chị Dung không có yêu cầu gì thêm.
Anh Thiệp vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có quan điểm gửi đến Toà án.
Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:
Về tố tụng: Anh Thiệp được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành, phiên tòa đã phải hoãn một lần. Chị Dung vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Thiệp, chị Dung là có cơ sở theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Dung và anh Thiệp đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dung với anh Thiệp là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị Dung là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung; công nợ chung: chị Dung khai nhận không có nên không yêu cầu giải quyết. Do vậy, đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn Bùi Văn T có nơi cư trú tại xóm Chạo Nạc, xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Về việc vắng mặt của chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn T: Anh Thiệp vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Chị Dung vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Thiệp, chị Dung theo thủ tục chung.
. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Dung và anh Thiệp là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh Thiệp không đến Tòa thể hiện không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng, từ bỏ quyền trình bày nguyện vọng của anh trước việc chị Dung xin ly hôn với anh.
Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị Dung và anh Thiệp đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dung với anh Thiệp là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
. Về con chung: Chị Dung và anh Thiệp có 02 con chung là Bùi Thị Huyền Trang, sinh ngày 01/03/2006 và Bùi Anh Huy, sinh ngày 03/09/2012 hiện các con đang ở với anh Thiệp và chị Dung. Khi ly hôn, chị Dung xin trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trang và cháu Huy cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Qua xác minh, chị Dung và anh Thiệp có điều kiện nuôi con như nhau nhưng do anh Thiệp không đến Toà án và không gửi quan điểm bày tỏ nguyện vọng về con chung đến Toà án; nguyện vọng của cháu Huy và cháu Trang là mong muốn được sống với mẹ.
Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự thấy cần chấp nhận yêu cầu về con chung của chị Dung là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Dung chưa yêu cầu anh Thiệp phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với chị. Theo kết quả xác minh tại địa phương thì hiện chị Dung có đầy đủ điều kiện nuôi con. Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Dung là phù hợp.
. Về tài sản; công nợ chung: chị Dung khai nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
. Về án phí: Chị Dung phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D đối với anh Bùi Văn T về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Thị Huyền Trang, sinh ngày 01/03/2006 và Bùi Anh Huy, sinh ngày 03/09/2012 cho chị Dung trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 01/2022 trở đi cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Dung chưa yêu cầu anh Thiệp cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung; Công nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Dung phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ tạm ứng án phí chị Dung đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005575 ngày 05/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị Dung không phải nộp án phí nữa.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHA huyện Lạc sơn; - UBND xã Tuân Đạo, h. Lạc Sơn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |