vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị T ly hôn với ông Võ Quốc C.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 25/8/2015 (đang sống với ông C) cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Giao con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 24/11/2019 (đang sống với bà T) cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, hai bên không phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị T, Vo Quốc C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị T ly hôn với ông Võ Quốc C.
  • Căn cứ chính? Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày
: 21-01-2022
V/V “Ly hôn giữa bà T, ông C,
nuôi con chung khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Ngọc Minh.

Ông Võ Văn Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 159/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2021 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2021/QĐXXST-HN ngày 09 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị T.

Địa chỉ thường trú: Ấp 6, xã C, huyện T, tỉnh Long An.

Địa chỉ liên lạc: đường Đỗ Tường P, khu phố 3, thị trấn V, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Võ Quốc C. Địa chỉ: Ấp 6, xã C, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-10-2021 và trong quá trình xét xử bà Võ Thị The là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Võ Quốc C chung sống với nhau từ năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh C. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ngoài ra ông C còn có tính hay ghen tuông đối với bà. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 25/8/2015 đang sống với ông C; Võ Tấn T, sinh ngày 24/11/2019 đang sống với bà. Khi ly hôn bà đồng ý để ông C nuôi dưỡng Tấn T, bà nuôi dưỡng Tấn T đến khi con chung đủ 18 tuổi, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau.

Về tài sản chung: Có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Võ Quốc C là bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà T yêu cầu ly hôn với ông C, Hội đồng xét xử nhận thấy được quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành. Ông C vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông C có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông C. Xét thấy tình nghĩa vợ chồng giữa bà T và ông C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu ly hôn với ông C, ông C không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng (vắng mặt không có lý do) điều đó chứng tỏ ông C cũng không còn quan tâm gì đối với cuộc sống hôn nhân của chính mình theo quy định tại các điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 25/8/2015 đang sống với ông C; Võ Tấn T, sinh ngày 24/11/2019 đang sống với bà. Khi ly hôn bà đồng ý để ông C nuôi dưỡng Tấn T, bà nuôi dưỡng T Tài đến khi con chung đủ 18 tuổi, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau. Cháu Tấn T hiện đang sống cùng với ông C và Tấn T đang sống cùng với bà The từ trước cho đến nay, cũng đã ổn định về mọi mặt, để giữ ổn định về mọi mặt cũng như điều kiện chăm sóc con chung nên cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con của bà T và ông C là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà T cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 09, 19, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị T ly hôn với ông Võ Quốc C.

2. Về nuôi con chung:

Giao con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 25/8/2015 (đang sống với ông C) cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Giao con chung tên Võ Tấn T, sinh ngày 24/11/2019 (đang sống với bà T) cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Không ai được lợi dụng việc thăm nom con hoặc việc trực tiếp nuôi con để cản trở việc nuôi con hoặc việc thăm nom con, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bên còn lại. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007544 ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ