vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Bạch Y - Trương Văn N"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Văn Lước;

2. Ông Nguyễn Trọng Tình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXX-ST ngày 03 tháng 3 năm 2022.

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bạch Y, sinh năm 1972; thường trú: Đường B 63, Tổ 4, ấp Đ, xã B, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Ki-ốt của bà Bùi Thị Thu, đường 33, khu Vsip II, tổ 9, khu phố 3, thị trấn Tân Bình, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trương Văn N, sinh năm 1968; thường trú: Đường B 63, tổ 4, ấp Đ, xã B, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2021, bản tự khai ngày 24/02/2022 nguyên đơn bà Võ Thị Bạch Y trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Bạch Y và ông Trương Văn N chung sống trên cơ sở tự nguyê ̣n và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57, quyển số 01/03 ngày 08/9/2003 của UBND xã B, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ tháng 8/2020 đến nay vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do thái độ ứng xử, lối sống và trách nhiệm của ông N đối với vợ con và gia đình không tốt. Bà Y và ông N đã nhiều lần xảy ra xung đột và cãi vã nên làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình và sự hình thành nhân cách của con cái. Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài rất nhiều năm nhưng không giải quyết được. Nhâ ̣n thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Võ Thị Bạch Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn N.

+ Về con chung và mức cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 04 con chung tên Trương Thị Thúy O, sinh ngày 12/01/1993; Trương Thị Hồng H, sinh ngày 08/03/1996; Trương Thị Hồng N’, sinh ngày 08/05/1997 và Trương Thị Thanh T, sinh ngày 18/08/2004. Khi ly hôn bà Y yêu cầu Tòa án giao cháu Trương Thị Thanh T cho ông Trương Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Bạch Y không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đề ngày 24/02/2022, bị đơn ông Trương Văn N trình bày: Ông N và bà Y sống chung với nhau từ ngày 21/3/1992 nhưng do tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng không còn sống chung. Về con chung ông N khai thống nhất với bà Y. Ông N đồng ý nuôi con chung tên Trương Thị Thanh T, sinh ngày 18/8/2004. Ông N không yêu cầu bà Y phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và vay nợ chung ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại huyện Bắc Tân Uyên và nguyên đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông N và Bà Y là những người đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ngày 08 tháng 9 năm 2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà Y cho rằng quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Bà Y cho biết bà không còn tình cảm với ông N và không còn biện pháp hàn gắn. Ông N có văn bản xác định hiện nay hai người đều không muốn sống chung với nhau. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà Y và ông N là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Y yêu cầu được ly hôn với ông N là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 04 người con chung tên Trương Thị Thúy O, sinh ngày 12/01/1993; Trương Thị Hồng H, sinh ngày 08/03/1996; Trương Thị Hồng N’, sinh ngày 08/05/1997 và Trương Thị Thanh T, sinh ngày 18/08/2004. Sau khi ly hôn bà Y yêu cầu Tòa án giao cháu Trương Thị Thanh T cho ông Trương Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông N đồng ý theo yêu cầu của bà Y và cháu Tuyền cũng có nguyện vọng được sống cùng cha. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trương Thị Thanh T cho ông N nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị Bạch Y phải nộp án phi hôń nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Bạch Y đối với bị đơn ông Trương Văn N về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Bạch Y được ly hôn với ông Trương Văn N.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Trương Thị Thanh T, sinh ngày 18/8/2004 cho ông Trương Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Võ Thị Bạch Y không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Võ Thị Bạch Y và ông Trương Văn N đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Bạch Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/009884 ngày 20/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ