vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 13/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ một phần bản án hôn nh n và gia đình sơ thẩm số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr về phần chia tài sản khi ly hôn; chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nh n d n thành phố Đông Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí: Bà Tr ơng Th K không phải ch u án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà K số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000439 ngày 06/9/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp tài sản phi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Huỷ một phần bản án hôn nh n và gia đình sơ thẩm số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr về phần chia tài sản khi ly hôn; chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nh n d n thành phố Đông Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 13-12-2022
V/v ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Th nh ph n H

ng t phúc th m g m c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.

Các Thẩm phán: Bà Nguy n Th Thu Hà;

Ông Lê Thiết Hùng.

- Thư ký ph ên tòa: Bà Lê Th Thanh Nhàn - Th k T a án nh n d n t nh Quảng Tr .

- Đạ d ện V ện K ểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị: Ông Lê Xuân An - Kiểm sát viên tham gia phiên t a.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n d n t nh Quảng Tr xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 06/2022/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022, về việc“Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án hôn nh n gia đình sơ thẩm số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2022 của T a án nh n d n thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2022/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2022, giữa các đ ơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tr ơng Th K, sinh năm 1978; NĐKTT: Khu phố 1, ph ờng Đ, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr ; đ a ch liên hệ: Đ ờng 15A, thôn P, xã V, huyện Quảng Ninh, t nh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1975; đ a ch : Khu phố 1, ph ờng Đ, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr . Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật s Trần Th Hoàng Mai - Văn ph ng luật s Hoàng Mai Quảng Tr ; đ a ch : Khu phố 1, Ph ờng 5, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr . Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn; đ a ch : Số 41 Chế Lan Viên, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr .

Nguồi đại diện: Ông Trần A- Giám đốc Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn; có mặt.

- Anh Lê Văn L, sinh năm 1994 và ch Nguy n Th Diệu L, sinh năm 1994; cùng đ a ch : Khu phố 1, ph ờng Đ, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr . Có mặt.

4. Người kháng cáo:

- Bà Tr ơng Th K - nguyên đơn;

- Ông Lê Văn C - b đơn;

- Anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L - ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ơn khở k ện ng y 15/02/2022, các lờ kha trong quá trình g ả quyết vụ án v tạ ph ên tòa, nguyên ơn b Trương Thị K trình bày:

* Về quan hệ hôn nh n: Bà Tr ơng Th K và ông Lê Văn C đăng k kết hôn ngày 10/3/2016 tại Uỷ ban nh n d n xã An Ninh, huyện Quảng Ninh, t nh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh m u thuẫn, nguyên nh n do có hành vi bạo lực gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không c n, đời sống chung không thể kéo dài, do đó bà K yêu cầu T a án giải quyết cho bà đ ợc ly hôn ông Lê Văn C.

* Về con chung: Không có con chung.

* Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: Bà K và ông C có khối tài sản chung có tổng tr giá khoảng 2.524.000.000 đồng, gồm:

- Quyền sử dụng 180m2 đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 928630 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Quảng Tr cấp ngày 19/11/2020 đứng tên ông Lê Văn C và bà Tr ơng Th K (Sau đây viết tắt là: giấy CNQSDĐ số CT 928630), có giá tr khoảng 1.900.000.000 đồng;

- 01 ngôi nhà kết cấu hai tầng x y dựng trên diện tích đất 5x20(mét) ở khu phố 3, ph ờng Đông Thanh, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr , thửa đất số 280, tờ bản đồ số 07, có giá khoảng 600.000.000 đồng;

- 01 tủ lạnh nhãn hiệu TOSHIBA, mua năm 2018, có giá 5.000.000 đồng;

- 01 ti vi nhãn hiệu LG, mua năm 2018, có giá 9.000.000 đồng;

- 01 giá bằng gỗ để ti vi có kích th ớc 2,5 x 1,8(m), mua năm 2018, có giá 4.000.000 đồng;

- 01 tủ đựng quần áo giá 6.000.000 đồng.

Khi ly hôn, bà K yêu cầu T a án chia đôi toàn bộ tài sản cho bà K và ông C, mỗi ng ời đ ợc h ởng một nửa tài sản chung theo giá th tr ờng, bà K xin nhận giá tr tài sản bằng tiền.

Về nguồn gốc tài sản: Năm 2018 bà K và ông C mua của anh Hồ Công T thửa đất 180m2 với giá 200.000.000 đồng, sau đó tiến hành x y dựng nhà ở kiên cố. Khi làm nhà, bà K vay m ợn đ a cho ông C 400.000.000 đồng tiền mặt, c n lại là tiền của ông C. C n số tiền hơn 1 tỷ đồng ông C đ ợc bồi th ờng, hỗ trợ từ việc giải phóng mặt bằng để x y đ ờng Hoàng Diệu, ông C đã cho vợ cũ, con trai, con gái, x y lăng mộ cho ba mẹ và trả nợ. Nền đất tái đ nh c diện tích 120m2, ông C và bà K đã chuyển nh ợng cho anh Hồ Sỹ C.

Về nợ chung: Bà K và ông C có khoản nợ chung tại Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn số tiền vay 300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD ngày 11/02/2022, mục đích vay: trả tiền mua thửa đất số 280, tờ bản đồ số 07. Để đảm bảo cho khoản vay, bà K và ông C đã thế chấp quyền sở hữu và sử dụng nhà đất thửa đất số 280, tờ bản đồ số 07, diện tích 180m2 theo GCNQSDĐ số CT 928630, tại khu phố 3, ph ờng Đông Thanh, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr . Khi ly hôn, bà K có nguyện vọng: bà K và ông C mỗi ng ời có nghĩa vụ trả một nửa số tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn theo Hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD ngày 11/02/2022.

Tạ ơn trình ý k ến ng y 01/3/2022, các lờ kha trong quá trình g ả quyết vụ án v tạ ph ên tòa, bị ơn ông Lê Văn C trình bày:

* Về quan hệ hôn nh n: Ông C đồng ly hôn bà K.

* Về con chung: Ông C và bà K không có con chung.

* Về tài sản chung: Bà K trình bày là hoàn toàn không đúng.

- Về nguồn gốc tài sản là quyền sử dụng diện tích đất ở: Ông C và vợ cũ là bà L ơng Th Diệu M đ ợc UBND th xã Đông Hà cấp GCNQSDĐ số AE 357077 ngày 19/4/2007, diện tích 103m2 đất ở, thửa đất 54, tờ bản đồ 39; tại Khu phố 1, ph ờng Đông Giang (do bố mẹ ông C là ông Lê Kính và bà Nguy n Th Đoạt tặng cho).

Sau khi ông C và bà Mỹ ly hôn, ngày 08/7/2015, hai ng ời lập văn bản thỏa thuận: Bà Mỹ giao cho ông C toàn bộ phần quyền sử dụng đất tại thửa đất trên. Trên cơ sở đó, UBND Đông Hà cấp GCNQSDĐ số BV 398827 cho ông Lê Văn C.

Ngày 22/5/2018, UBND thành phố Đông Hà thu hồi đất của ông Lê Văn C theo thực tế sử dụng là 149m2 đất để x y dựng đ ờng Hoàng Diệu, đ ợc bồi th ờng số tiền 1.097.696.000 đồng và đ ợc giao 01 lô đất tái đ nh c (có thu tiền sử dụng đất): Thửa đất số 107 (lô 04), tờ bản đồ số 17, diện tích 120m2, đ a ch : Khu tái đ nh c Bắc Sông Hiếu, ph ờng Đông Thanh, đ ợc cấp GCNQSDĐ số CQ 205257 ngày 09/12/2019 mang tên ng ời sử dụng đất: ông Lê Văn C.

Cùng thời điểm đó, ông Hồ Công T nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất diện tích 180m2 đất ở của bà Hồ Th B rồi chuyển nh ợng cho ông Hồ Sỹ C. Ông T và ông C thỏa thuận bằng miệng đổi đất với nhau. Ông T là ng ời làm thủ tục chuyển đổi để cấp lại GCNQSDĐ của 02 thửa, cụ thể:

+ 01 Hợp đồng ngày 10/7/2020 có bên chuyển nh ợng là ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K với bên nhận chuyển nh ợng là ông Hồ Sỹ C, diện tích chuyển nh ợng 120m2 đất ở, thửa đất số 107 (lô 04), tờ bản đồ số 17, đ a ch : Khu Tái đ nh c Bắc Sông Hiếu.

+ 01 Hợp đồng ngày 24/7/2020 có bên chuyển nh ợng là bà Hồ Th B với bên nhận chuyển nh ợng là ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K, diện tích chuyển nh ợng 180m2 đất ở, thửa đất số 280 (lô 175), tờ bản đồ số 07, đ a ch : Khu tái đ nh c Bắc Sông Hiếu.

Trên cơ sở đó, Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Quảng Tr cấp GCNQSDĐ số CT 928630 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K, diện tích 180m2 đất ở, thửa đất số 280 (lô 175), tờ bản đồ số 07, đ a ch thửa đất: Khu Tái đ nh c Bắc Sông Hiếu.

Nh vậy, diện tích 180m2 đất ở, thửa đất số 280 (lô 175), tờ bản đồ số 07, đ a ch thửa đất: Khu Tái đ nh c Bắc Sông Hiếu là tài sản riêng của ông C, có nguồn gốc của ba mẹ tặng cho, sau đó Nhà n ớc thu hồi bồi th ờng, giao đất tái đ nh c và ông C đổi đất với ông T.

Sau khi đổi đất vào tháng 5/2018, ông C cho vợ chồng con trai Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L 4m ngang (diện tích 4x20m) nh ng ch a tách thửa, c n lại của ông C 5m ngang (diện tích 5x20m). Ông C và vợ chồng con trai cùng làm nhà và hoàn thiện vào cuối năm 2018.

- Về nguồn gốc tài sản là ngôi nhà hai tầng đ ợc x y trên diện tích đất 5x20 (mét):

Ngôi nhà đ ợc x y từ tiền của ông C nhận bồi th ờng do Nhà n ớc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng x y dựng công trình đ ờng Hoàng Diệu. Bà K ch có góp công trong việc trông coi và n ớc non cho thợ; vệ sinh nhà tr ớc khi vào ở. Thực tế bà K không có tiền, không có việc làm, ông C làm nghề xe kéo và đ a tiền cho bà K phục vụ sinh hoạt hàng ngày.

Do đó, ông C ch chấp nhận giao cho bà K theo công sức mà bà đã đóng góp với số tiền 300.000.000 đồng.

- Đối với tài sản trong nhà: 01 tủ lạnh nhãn hiệu TOSHIBA, 01 ti vi nhãn hiệu LG, 01 giá bằng gỗ để ti vi, 01 tủ đựng quần áo là tài sản chung của vợ chồng. Tài sản này chia đôi, mỗi ng ời h ởng ½ giá tr tài sản, giao cho bà K số tài sản này và bà K trả cho ông C tiền chênh lệch tài sản.

- Về khoản nợ: Ông C và bà K có vay tại Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn số tiền 300.000.000 đồng theo Hợp đồng tin dụng số 2022/0052/HĐTD ngày 11/02/2022, mục đích ghi trong hợp đồng vay: Tiêu dùng (sửa nhà, mua đồ dùng sinh hoạt). Ông C đề ngh T a án giải quyết chia đôi, mỗi ng ời có nghĩa vụ trả ½ số nợ.

Ngườ c quyền lợ , nghĩa vụ l ên quan Quỹ tín dụng nhân dân Trường Sơn trình b y: Căn cứ hồ sơ vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 2021/0030/HĐTD ngày 01/02/2021, ông Lê Văn C và bà Tr ơng Th K vay của Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng để sửa chữa nhà ở, ngày 10/02/2022 ông C, bà K đã trả toàn bộ nợ gốc và lãi tại Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Ngày 11/02/2022, Quỹ tín dụng Tr ờng Sơn k kết Hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD với ông C, bà K. Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn đề ngh ông C và bà K thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy đ nh của pháp luật.

Ngườ c quyền lợ , nghĩa vụ l ên quan anh Lê Văn L v chị Nguyễn Thị D ệu L trình bày: Thống nhất theo kiến trình bày của b đơn ông Lê Văn C.

Tr ớc đ y ông C đ ợc giao đất tái đ nh c thửa đất có diện tích 120m2, vì để có đủ đất cho con làm nhà nên đã đổi thửa đất có diện tích 180m2. Anh ch đ ợc ông Lê Văn C cho một phần thửa đất với diện tích đất 80m2 (4x20m) và 12.000.000 đồng để x y nhà. Quá trình làm nhà không b ai ngăn cản. Anh L và ch L sử dụng nhà đất trên từ năm 2018 đến nay không xảy ra tranh chấp. Do đó tài sản nhà đất này là tài sản riêng của anh ch .

Do không đ ợc phép tách đất đ ợc giao tái đ nh c nên vợ chồng anh ch sử dụng chung GCNQSDĐ đã cấp cho ông C, bà K.

Đề ngh T a án tách riêng phần đất (mà trên đất đã có ngôi nhà kiên cố của vợ chồng Anh L) và giá tr phần đất mà ông C đã cho vợ chồng Anh L; đồng thời công nhận quyền sử dụng đất của Anh L và ch L.

ản án sơ th m s 1 /2022/HNGĐ-ST ng y 1 / /2022 c a TAND th nh ph Đông H , tỉnh Quảng Trị quyết ịnh:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 33, 37, 55, 59 Luật Hôn nh n và gia đình; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:

- Về quan hệ hôn nh n: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lê Văn C và bà Tr ơng Th K.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu T a án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tr ơng Th K: Giao cho ông Lê Văn C đ ợc quyền sở hữu 01 ngôi nhà x y hai tầng, tổng diện tích x y dựng 174m2, mái hiên 13,05m2, gắn liền với quyền sử dụng đất 180m2, tại thửa đất số 280, tờ bản đồ số 07; đ a ch thửa đất: Khu phố 3, ph ờng Đông Thanh, thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr , đ ợc Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Quảng Tr cấp GCNQSDĐ số CT 928630 ngày 19/11/2020 mang tên ng ời sử dụng đất: Ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K.

Ông Lê Văn C có nghĩa vụ giao cho bà Tr ơng Th K tiền chênh lệch giá tr tài sản đ ợc chia là 997.814.500 đồng (Chín trăm chín mươi bảy triệu tám trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).

Ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục để đ ợc đứng tên đối với thửa đất đ ợc giao sử dụng theo quy đ nh của pháp luật.

- Về nợ chung: Ông Lê Văn C có nghĩa vụ trả cho Quỹ Tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn số tiền d nợ tính đến ngày 18/8/2022 là 308.124.000 đồng, trong đó nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 18/8/2022: 8.124.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD ngày 11/02/2022 của Quỹ Tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn.

Phần quyền sử dụng đất của anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L thực hiện theo thỏa thuận giữa ông Lê Văn C và Anh L, ch L trong phần tài sản ông C đ ợc chia.

Ngoài ra bản án sơ thẩm c n tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, xử l tài sản thế chấp, án phí, chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ, chi phí đ nh giá tài sản và quyền kháng cáo của đ ơng sự.

N dung kháng cáo c a các ương sự:

- Ngày 29/8/2022, nguyên đơn bà Tr ơng Th K có đơn kháng cáo và ngày 05/9/2022, bà K có đơn kháng cáo bổ sung, yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng:

+ Tài sản là nhà và đất: Chia đôi.

+ Về khoản nợ chung: Ông C và bà K, mỗi ng ời trả một nửa khoản nợ.

+ Về án phí: Đề ngh xác đ nh lại án phí ph n chia tài sản.

+ Triệu tập ông Hồ Công T, ông Hồ Sỹ C, bà Hồ Th B tham gia tố tụng.

- Ngày 26/8/2022, b đơn ông Lê Văn C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng:

+ Giao toàn bộ quyền sử dụng diện tích đất ở 180m2 theo GCNQSDĐ số CT 928630 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn C và vợ chồng anh Lê Văn L, ch Nguy n Th Diệu L sử dụng, trong đó: Ông C sử dụng 100m2, Anh L và ch L sử dụng 80m2.

+ Giao cho ông Lê Văn C quyền sở hữu 01 ngôi nhà hai tầng trên đất.

+ Ông Lê Văn C có nghĩa vụ giao cho bà Tr ơng Th K số tiền theo công sức mà bà K đã đóng góp và đ ợc h ởng trong khối tài sản chung của vợ chồng là 300.000.000 đồng.

- Ngày 26/8/2022, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L có đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng: Xác đ nh tài sản chung của vợ chồng ông Lê Văn C và bà Tr ơng Th K là quyền sử dụng 100m2 đất ở (phần đất có ngôi nhà của ông C, bà K), còn 80m2 đất ở mà trên đất có ngôi nhà 01 tầng thuộc quyền sở hữu của anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L.

Tạ ph ên tòa phúc th m, ạ d ện V ện K ểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát b ểu ý k ến về v ệc chấp h nh pháp luật t tụng c a Tòa án v quan ểm g ả quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Th k phiên tòa đã chấp hành đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng d n sự; các đ ơng sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên t a theo các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng d n sự.

- Về n i dung: Đề ngh HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng d n sự 2015, huỷ một phần bản án sơ thẩm về phần chia tài sản khi ly hôn và chuyển hồ sơ cho Toà án nh n d n thành phố Đông Hà để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

- Về án phí: Các đ ơng sự không phải ch u án phí theo quy đ nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên t a và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên t a, kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp: Bà Tr ơng Th K khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn đối với ông Lê Văn C và chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, do đó T a án cấp sơ thẩm xác đ nh quan hệ tranh chấp trong vụ án “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” là đúng quy đ nh tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

. Về tính hợp pháp của kháng cáo: Sau khi T a án cấp sơ thẩm xét xử vụ án ngày 18/8/2022 thì ngày 26/8/2022 b đơn ông Lê Văn C và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L kháng cáo; ngày 29/8/2022 nguyên đơn bà Tr ơng Th K kháng cáo. Nh vậy, kháng cáo của nguyên đơn, b đơn, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn luật đ nh, phù hợp với quy đ nh tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng d n sự, do đó T a án cấp phúc thẩm thụ l để giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với vụ án.

. Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn bà Tr ơng Th K, b đơn ông Lê Văn C, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L đề ngh cấp phúc thẩm xem xét lại việc ph n chia tài sản, nợ chung khi giải quyết yêu cầu ly hôn (tài sản đã đ ợc đ nh giá) bao gồm: 180m2 đất ở, tr giá 2.859.300.000đ; trên diện tích đất ở có 01 ngôi nhà 02 tầng của vợ chồng ông C, bà K, tr giá 590.173.000đ; 01 ngôi nhà của vợ chồng Anh L, ch L;

Tài sản là động sản của vợ chồng ông C, bà K gồm: 01 tủ lạnh nhãn hiệu TOSHIBA, tr giá 5.000.000 đồng; 01 ti vi nhãn hiệu LG, tr giá 9.000.000 đồng; 01 giá bằng gỗ để ti vi có kích th ớc 2,5 x 1,8(m), tr giá 4.000.000 đồng; 01 tủ đựng quần áo, tr giá 6.000.000 đồng.

Nợ chung của vợ chồng ông C, bà K: Nợ Quỹ Tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn số tiền d nợ tính đến ngày 18/8/2022 là 308.124.000 đồng, trong đó nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 18/8/2022: 8.124.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD ngày 11/02/2022 của Quỹ Tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn.

. Xét kháng cáo về tài sản chung là quyền sử dụng đất ở và tài sản có trên đất, thấy rằng:

. Về quyền sử dụng đất ở: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên t a cho thấy: Ông C và vợ cũ là bà L ơng Th Diệu M đ ợc UBND th xã Đông Hà cấp GCNQSDĐ số AE 357077 ngày 19/4/2007, diện tích 103m2 đất ở, thửa đất 54, tờ bản đồ 39; tại Khu phố 1, ph ờng Đông Giang (do bố mẹ ông C là ông Lê Kính và bà Nguy n Th Đoạt tặng cho). Sau khi ông C và bà Mỹ ly hôn, ngày 08/7/2015, hai ng ời lập văn bản thỏa thuận: Bà Mỹ giao cho ông C toàn bộ phần quyền sử dụng đất tại thửa đất trên. Trên cơ sở đó, UBND thành phố Đông Hà cấp GCNQSDĐ số BV 398827 cho ông Lê Văn C.

Ngày 22/5/2018, UBND thành phố Đông Hà thu hồi đất của ông Lê Văn C theo thực tế sử dụng là 149m2 đất để x y dựng đ ờng Hoàng Diệu, đ ợc bồi th ờng số tiền 1.097.696.000 đồng và đ ợc giao 01 lô đất tái đ nh c (có thu tiền sử dụng đất): Thửa đất số 107 (lô 04), tờ bản đồ số 17, diện tích 120m2, đ a ch : Khu tái đ nh c Bắc Sông Hiếu, ph ờng Đông Thanh, đ ợc cấp giấy CNQSDĐ số CQ 205257 ngày 09/12/2019 mang tên ng ời sử dụng đất: ông Lê Văn C.

Cùng thời điểm đó, ông Hồ Công T nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng diện tích 180m2 đất ở của bà Hồ Th B rồi chuyển nh ợng cho ông Hồ Sỹ C nên ông T và ông C thỏa thuận bằng miệng đổi đất với nhau. Ông T là ng ời làm thủ tục chuyển đổi để cấp lại giấy CNQSDĐ của 02 thửa, cụ thể:

+ Hợp đồng ngày 10/7/2020, bên chuyển nh ợng là ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K với bên nhận chuyển nh ợng là ông Hồ Sỹ C, diện tích chuyển nh ợng 120m2 đất ở, thửa đất số 107 (lô 04), tờ bản đồ số 17, đ a ch : Khu Tái đ nh c Bắc Sông Hiếu.

+ Hợp đồng ngày 24/7/2020, bên chuyển nh ợng là bà Hồ Th B với bên nhận chuyển nh ợng là ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K, diện tích chuyển nh ợng 180m2 đất ở, thửa đất số 280 (lô 175), tờ bản đồ số 07, đ a ch : Khu tái đ nh c Bắc Sông Hiếu, đ ợc Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Quảng Tr cấp giấy CNQSDĐ số CT 928630 ngày 19/11/2020 cho ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K.

Tr ớc đó, sau khi thỏa thuận miệng về việc đổi đất với ông T vào tháng 5/2018, ông C đã cho vợ chồng con trai là Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L 4m ngang (diện tích 4x20m= 80m2) nh ng ch a tách thửa, c n lại của ông C 5m ngang (diện tích 5x20m=100m2). Ông C và vợ chồng con trai cùng làm nhà và hoàn thiện vào cuối năm 2018.

Nh vậy, quyền sử dụng diện tích 180m2 đất theo giấy CNQSDĐ số CT 928630 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Quảng Tr cấp cho ông Lê Văn C và bà Tr ơng Th K đ ợc hình thành trong thời kỳ hôn nh n. Ông Lê Văn C cho rằng đ y là tài sản riêng của ông C, có nguồn gốc của ba mẹ tặng cho, sau đó Nhà n ớc thu hồi bồi th ờng, giao đất tái đ nh c và đổi đất với ông T mà có. Tuy nhiên, quá trình làm thủ tục đổi đất với ông Hồ Công T, ông C đã để bà Tr ơng Th K cùng đứng tên trong các hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và giấy CNQSDĐ, chứng tỏ ông C đã tự nguyện đ a tài sản riêng của mình thành tài sản chung của vợ chồng nên đ y là tài sản chung của ông C và bà K theo quy đ nh tại Điều 33 Luật Hôn nh n và gia đình

Năm 2018, ông C tự nguyện tặng cho con là anh Lê Văn L, ch Nguy n Th Diệu L diện tích 80m2 đất, là một phần thửa đất nói trên. Bà K biết việc ông C tặng cho con đất và việc Anh L, ch L x y dựng nhà trên diện tích 80m2 đó nh ng không có kiến phản đối, chứng tỏ bà K cũng đồng tặng cho Anh L, ch L quyền sử dụng diện tích đất này. Năm 2018, anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L đã x y dựng nhà ở kiên cố trên diện tích 80m2 đất đ ợc tặng cho và sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn đ nh từ năm 2018 đến nay.

Tại Đơn đề ngh của bà Tr ơng Th K ngày 18/4/2022, bà K một lần nữa khẳng đ nh “phần diện tích 80m2 đất thuộc quyền sở hữu của ông Lê Văn L và bà Nguy n Th Diệu L”, c n giá tr tài sản trên đất mà ông L ợng, bà Linh x y dựng là 01 ngôi nhà thì bà K không liên quan; điều này chứng tỏ bà K đã công nhận ngôi nhà 01 tầng gắn liền diện tích đất 80m2 mà vợ chồng Anh L đang sử dụng là thuộc quyền sử dụng, sở hữu của Anh L, ch L.

Nh vậy, tuy việc tặng cho quyền sử dụng diện tích 80m2 đất thuộc thửa đất số 270, tờ bản đồ số 7 tại ph ờng Đông Thanh không lập thành văn bản, ch a tu n thủ quy đ nh về hình thức, nh ng giao d ch này đã hoàn thành, do đó cần công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất trên thực tế giữa bên tặng cho là ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K với bên đ ợc tặng cho là anh Lê Văn L, ch Nguy n Th Diệu L, phần quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông C, bà K ch c n lại để xem xét phân chia khi ly hôn là 100m2.

Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm ch a ph n tích, đánh giá để công nhận giao d ch tặng cho quyền sử dụng diện tích 80m2 đất nói trên cho Anh L, ch L mà lại xác đ nh và ph n chia tài sản chung của vợ chồng ông C, bà K bao gồm toàn bộ diện tích 180m2 là không đúng, làm ảnh h ởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lê Văn L, ch Nguy n Th Diệu L cũng nh giá tr phần tài sản mà ông Lê Văn C đ ợc nhận khi ph n chia tài sản chung của vợ chồng.

. Về tài sản có trên đất: Trên diện tích 180m2 đất ông C, bà K đ ợc cấp giấy CNQSDĐ số CT 928630 ngày 19/11/2020 có 01 ngôi nhà x y 02 tầng của vợ chồng ông C, bà K, tr giá 590.173.000đ và 01 ngôi nhà 01 tầng là tài sản của Anh L, ch L x y dựng và sử dụng từ năm 2018 đến nay. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm ch a đ nh giá xác đ nh giá tr ngôi nhà cũng nh ch a làm rõ ngôi nhà của Anh L, ch L có đ ợc x y dựng hợp pháp trên đất của ông C, bà K đã đ ợc cấp giấy chứng nhận hay không, bởi vì Anh L, ch L làm nhà năm 2018 nh ng đến năm 2020 ông C, bà K mới lập hợp đồng nhận chuyển nh ợng và đ ợc cấp giấy CNQSDĐ bao gồm cả diện tích đất vợ chồng Anh L, ch L đã làm nhà từ năm 2018. Trong tr ờng hợp nếu có căn cứ Anh L, ch L làm nhà trên đất không đ ợc sự đồng của ông C, bà K nh ng ngôi nhà có giá tr sử dụng lớn thì phải giao ngôi nhà này cho ông C, bà K sở hữu, đồng thời buộc ông C, bà K có trách nhiệm hoàn trả giá tr tài sản về ngôi nhà cho Anh L, ch L. Tr ờng hợp Anh L, ch L làm nhà ở hợp pháp trên diện tích đất đ ợc tặng cho thì phải tách riêng tài sản là nhà, đất của Anh L, ch L không liên quan đến tài sản chung của ông C, bà K để trên cơ sở đó mới xem xét ph n chia phần tài sản chung c n lại của vợ chồng.

. Về các tài sản khác: Ông C và bà K thừa nhận, trong thời kỳ hôn nh n vợ chồng có m a sắm các tài sản gồm 01 tủ lạnh nhãn hiệu TOSHIBA tr giá 5.000.000 đồng; 01 ti vi nhãn hiệu LG tr giá 9.000.000 đồng; 01 giá bằng gỗ để ti vi tr giá 4.000.000 đồng; 01 tủ đựng quần áo tr giá 6.000.000 đồng. T a án cấp sơ thẩm nhận đ nh đ y là tài sản chung của vợ chồng và giao cho ông C sở hữu 01 tủ lạnh nhãn hiệu TOSHIBA, tr giá 5.000.000 đồng, 01 tủ đựng quần áo tr giá 6.000.000 đồng, tổng giá tr 11.000.000đ; giao cho bà K sở hữu 01 ti vi nhãn hiệu LG tr giá 9.000.000 đồng; 01 giá bằng gỗ để ti vi tr giá 4.000.000 đồng; bà K có trách nhiệm trả cho ông C tiền chênh lệch là 1.000.000đ là đúng. Tuy nhiên, phần quyết đ nh của bản án lại không giao cho ai đ ợc quyền sở hữu về tài sản này là không đúng quy đ nh, ảnh h ởng đến quyền sở hữu tài sản của các đ ơng sự.

. Về nghĩa vụ trả nợ: Ngày 11/02/2022, ông Lê Văn C, bà Tr ơng Th K và Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn k kết Hợp đồng tín dụng số 2022/0052/HĐTD, theo đó bà K và ông C vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích sử dụng tiền vay: tiêu dùng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C và bà K thống nhất đ y là khoản nợ chung của vợ chồng nên mỗi ng ời phải trả ½ số nợ cho Quỹ tín dụng nh n d n Tr ờng Sơn, quỹ tín dụng và các bên không thoả thuận về chuyển đổi nghĩa vụ trả nợ. Phần nhận đ nh của bản án xác đ nh ông C và bà K mỗi ng ời phải có trách nhiệm trả ½ nợ gốc và lãi cho Quỹ tín dụng, nh ng lại nhận đ nh buộc bà K có trách nhiệm chuyển số tiền trả nợ này lại cho ông C để ông C trả cho Quỹ tín dụng và phần quyết đ nh của bản án buộc ông C có trách nhiệm trả toàn bộ nợ gốc, lãi cho Quỹ tín dụng Tr ờng Sơn là không đúng quy đ nh, không đúng nguyên tắc giải quyết nợ chung của vợ chồng.

. Việc giao tài sản khi ly hôn:

Quyết đ nh của bản án sơ thẩm giao cho ông C đ ợc quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà hai tầng gắn liền với quyền sử dụng 180m2 đất nh ng không xác đ nh tổng giá tr nhà, đất ông C đ ợc giao sở hữu, sử dụng để làm căn cứ buộc ông C có trách nhiệm giao cho bà K số tiền chênh lệch nhận tài sản 997.814.500 đồng là thiếu sót.

. Từ những ph n tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Những vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm là nghiêm trọng, ảnh h ởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đ ơng sự mà Toà án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung đ ợc. Do đó, cần chấp nhận kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Quảng Tr , huỷ một phần bản án sơ thẩm về phần chia tài sản khi ly hôn, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nh n d n thành phố Đông Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

. Các phần khác của bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

. Về án phí: Do bản án sơ thẩm b huỷ phần ph n chia tài sản chung để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm nên các đ ơng sự kháng cáo không phải ch u án phí phúc thẩm. Án phí d n sự sơ thẩm về chia tài sản khi ly hôn và chi phí tố tụng khác đ ợc xác đ nh khi giải quyết lại vụ án.

Vì các l trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng d n sự; khoản 3 Điều 29 Ngh quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Toà án, xử:

1. Huỷ một phần bản án hôn nh n và gia đình sơ thẩm số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr về phần chia tài sản khi ly hôn; chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nh n d n thành phố Đông Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí:

Bà Tr ơng Th K không phải ch u án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà K số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000439 ngày 06/9/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr .

Ông Lê Văn C không phải ch u án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông C số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000441 ngày 07/9/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr .

Anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L không phải ch u án phí d n sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh Lê Văn L và ch Nguy n Th Diệu L số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000440 ngày 07/9/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Đông Hà, t nh Quảng Tr .

Nghĩa vụ ch u án phí sơ thẩm về chia tài sản khi ly hôn và chi phí tố tụng khác đ ợc xác đ nh khi giải quyết lại vụ án.

3. Những phần khác của bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 13/12/2022.

Nơ nhận:

Cỡ chữ