- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Tấn H "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai" UBND huyện T tỉnh Long An"
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An; Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 30 Luật Tố tụng Hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! TỈNH!LONG!AN! Bản án số: 06/2022/HC-ST Ngày: 16-02-2022 V/v: Khiếu kiện quyết định |
hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!LONG!AN!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Diệu
Bà Phạm Thị Lập
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Phùng Thị Cẩm Khanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 99/2021/TLST-HC ngày 03 tháng 6 năm 2021 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2021/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Lê Tấn H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp 3, xã M, huyện T, tỉnh Long An
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Khánh Tâm, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện T, tỉnh Long An
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Minh H- thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh Đ - Chủ tịch;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Nguyễn Thanh T -Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T;
- Ông Vũ Văn Q - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T;
- Ông Nguyễn Văn L - Phó giám đốc Ban quản lý đầu tư xây dựng huyện T;;
(Ông T, Luật sư H, ông L, ông T, ông Q có mặt; ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền có nội dung như sau:
Ông Lê Tấn H yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc thu hồi đất của ông Lê Tấn H để thi công công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T và ban hành quyết định mới đúng quy định pháp luật;
- Hủy Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T cho ông Lê Tấn H;
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện T điều chỉnh lại Quyết định số 4276/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T và ban hành quyết định quyết định mới về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo giá đất cụ thể của dự án, phù hợp với giá đất thị trường theo cầu khởi kiện là 1.000.000đồng/m2 toàn diện tích thu hồi.
- Yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 dự án công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, bổ sung công trình đường dân sinh hai bên phía dự án khu dân cư đường số 3, xã T, huyện T.
Lý do: Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc thu hồi đất của ông Lê Tấn H để thi công công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T vi phạm thời gian thông báo thu hồi đất không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật đất đai năm 2013, giá đất không phù hợp với giá thị trường, áp giá không đúng với vị trí đất bị thu hồi; phải ban hành quyết định mở đường dân sinh phía sau dự án khu dân cư đường số 3.
Tại phiên tòa người đại diện cho người khởi kiện rút yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T mở đường dân sinh phía sau dự án khu dân cư đường số 3.
Tại Văn bản số 1919/UBND-NC ngày 30/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện T và lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích cho Ủy ban nhân dân huyện T có nội dung như sau:
Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc thu hồi đất của ông Lê Tấn H để thi công công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3 xã T, huyện T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 69 Luật đất đai năm 2013.
Đối với Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T cho ông Lê Tấn H, ngày 20/01/2021 ông Lê Tấn H có làm đơn khiếu nại về giá bồi thường theo Quyết định số 4298/QĐ-UBND với nội dung (giá bồi thường không phù hợp với giá giao dịch trên thị trường, yêu cầu mở đường dân sinh vào phần đất còn lại sau khi nhà nước thu hồi). Với nội dung khiếu nại của ông Lê Tấn H, Ủy ban nhân dân huyện T đã tiếp thu và bổ sung quy hoạch làm đường dân sinh theo yêu cầu của ông, về giá bồi thường ông H đã đồng ý tại biên bản làm việc ngày 05/02/2021 với Phòng Tài nguyên và Môi trường và các ban ngành liên quan của huyện T. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện T không đồng ý yêu cầu hủy Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3 xã T, huyện T.
Việc ông Lê Tấn H yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T điều chỉnh lại Quyết định số 4276/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, theo giá đất cụ thể của dự án, phù hợp với giá đất thị trường theo cầu khởi kiện là 1.000.000đồng/m2 toàn diện tích thu hồi. Để đảm bảo tính khách quan trung thực, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường thuê và ký hợp đồng với Công ty Cổ phần thông tin và Thẩm định giá Miền Nam. Ngày 15/10/2020 Công ty Cổ phần thông tin và Thẩm định giá Miền Nam cung cấp chứng thư thẩm định giá số 53/ĐGĐ-LA. Chứng thư thẩm định giá 53/ĐGĐ-LA đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để thực hiện công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T tại Quyết định số 4062/QĐ-UBND. Do đó, yêu cầu của ông H là không có cơ sở.
Ủy ban nhân dân huyện T đã ban hành quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T đối với hộ ông Lê Tấn H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Luật sư Phan Thanh Hoàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Để triển khai thực hiện dự án Khu dân cư Đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, tỉnh Long An có thu hồi đất, UBND huyện T đã ban hành các văn bản: Thông báo thu hồi đất số 1150/TB-UBND ngày 11/5/2020 về việc thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án; Quyết định thu hồi số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc thu hồi đất của ông H để thi công công trình và Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình. Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định thu hồi đất của ông Lê Tấn H trễ 04 tháng so với quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật đất đai và gần 01 năm sau mới gửi thông báo thu hồi đất cho ông H. Vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội quốc gia làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H hủy quyết định thu hồi đất số 4273 nêu trên. Đối chiếu với giá đất được tính toán bồi thường cho ông H với Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình, chưa áp dụng các nguyên tắc khi xác định giá đất cụ thể để bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 74, Điều 112, khoản 4 Điều 114 Luật đất đai 2013 và Điều 15 Nghị định 44/2014/NĐ-CP, Thông báo thu hồi đất trễ dẫn đến thời điểm định giá không còn đúng để định giá đất, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chứng minh giao dịch bất động sản có cùng mục đích sử dụng đã tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Công ty thẩm định giá Miền Nam là đơn vị tư vấn xác định giá đất thu thập được nêu trong báo cáo kết quả định giá đất thì có Hợp đồng chuyển nhượng ký vào thời điểm năm 2019 và các giao dịch quyền sử dụng đất tại địa điểm ấp Cà Nhíp, xã T và có trường hợp thu thập giá đất bồi thường ở dự án khác so với địa điểm thực hiện dự án đường số 3. Hơn nữa bảng giá đất 5 năm ban hành và điều chỉnh (2020-2024) của UBND tỉnh Long An theo Quyết định 74/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019; QĐ 27/2020/QĐ_UBND ngày 02/7/2020 không áp dụng cho việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Do đó, yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định 4298/QD-UBND, buộc UBND huyện T ra quyết định điều chỉnh quyết định 4276/QĐ-UBND theo giá đất cụ thể của dự án, phù hợp với giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất ở khu vực dự án là 1.000.000đ/m2.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo qui định của Luật Tố tụng Hành chính
Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định thu hồi đất số 4273 ngày 28/12/2020 và quyết định bồi thường do thu hồi đất số 4298 ngày 28/12/2020 là đúng qui định về thẩm quyền và trình tự thủ tục, tuy nhiên phía người khởi kiện cho rằng việc Ủy ban nhân dân huyện vi phạm thời gian thông báo việc thu hồi đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T nhận thiếu sót và đã khắc phục có sự thống nhất của ông H. Ông H yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định bồi thường theo đơn giá 1.000.000đ/m2 đất thu hồi xét thấy giá đất mà Ủy ban nhân dân huyện bồi thường cho ông H theo giá thị trường do Công ty thẩm định giá Miền Nam thẩm định được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt có mức giá cao hơn giá nhà nước, nên yêu cầu nầy của ông H không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa người đại diện cho ông H rút yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T mở đường dân sinh phía sau nên đề nghị không đề cập xem xét.
Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H và buộc ông H nộp án phí hành chính sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Tấn H yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc thu hồi đất của ông Lê Tấn H để thi công công trình Đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T và ban hành quyết định mới đúng quy định pháp luật; Hủy Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T cho ông Lê Tấn H; yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T điều chỉnh lại Quyết định số 4276/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, theo giá đất cụ thể của dự án, phù hợp với giá đất thị trường theo cầu khởi kiện là 1.000.000đồng/m2 toàn diện tích thu hồi. Đây khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
Đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định điều chỉnh Quy hoạch chi tiết 1/500 dự án công trình Đường số 2 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, bổ sung công trình đường dân sinh hai bên phía dự án khu dân cư đường số 3, xã T, huyện T, về yêu cầu nầy Ủy ban nhân dân huyện T đã ra thông báo số 766/TB-UBND ngày 02/4/2021 về việc quy hoạch thiết kế bổ sung đường dân sinh hai bên phía sau dự án khu dân cư đường số 3 và đã thông báo cho ông H biết nên yêu cầu nầy là chưa đủ điều kiện khởi kiện, đồng thời tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông H rút lại yêu cầu nầy nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét là phù hợp.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 28/12/2020, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành các quyết định số 4273/QĐ-UBND, 4276/QĐ-UBND, 4298/QĐ-UBND. Đến ngày 10/5/2021, ông H nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu, vì vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng qui định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện có đơn xin vắng mặt, người khởi kiện, người đại diện người khởi kiện có đơn không yêu cầu đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
[4] Người đại diện của người bị kiện ông Lê Thanh Đ có đơn xin xét xử văng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ là phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Ủy ban nhân dân huyên Tân Thạnh ban hành Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 và Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ đất đối với ông Lê Tấn H là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 69, Điều 74 và Điều 75 Luật đất đai 2013.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính:
[6.1] Xét Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T.
Ngày 11/5/2020, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất số 1150/TB-UBND, đến ngày 28/12/2020, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 4273/QĐ-UBND về việc thu hồi 1.121m2 đất tọa lạc tại ấp Tân Hiệp, xã T, huyện T, tỉnh Long An đối với trọn thửa đất 1286, thuộc tờ bản đồ số 4, với diện tích 455m2,, loại đất hàng năm khác và một phần thửa 917, tờ bản đồ số 4, diện tích 666m2, loại đất hàng năm khác của ông Lê Tấn H là căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 827/QĐ-UBND ngày 16/3/2020 và được Hội đồng nhân dân tỉnh Long An thông qua theo Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày 13/4/2020. Như vậy Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định thu hồi đất số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 là phù hợp Điều 66, Điều 67 và Điều 69 Luật Đất đai 2013.
Người khởi kiện và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện cho rằng Ủy ban nhân dân huyện T ban hành thông báo thu hồi đất đến khi có quyết định thu hồi đất không đúng thời gian qui định tại Điều 67 Luật Đất đai, dẩn đến Quyết định thu hồi đất số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T là trái qui định của pháp luật, thấy rằng trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T cũng thừa nhận có thiếu sót trong việc ban hành và gởi thông báo thu hồi đất cho ông H, nhưng từ ngày 09/11/2020 Ủy ban nhân dân huyện T đã họp dân thông qua dự thảo phương án hỗ trợ, bồi thường, đồng thời niêm yết công khai lấy ý kiến dự thảo phương án bồi thường, danh sách nhận bảng chiết tính bồi thường đều có mặt ông H tham gia và ký tên vào các biên bản, đồng thời tại biên bản làm vệc với ông H vào ngày 05/02/2021 ông H thống nhất với đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân huyện T thông qua, do đó đại diện người khởi kiện và Luật sư cho rằng do vi phạm thời hạn thông báo dẫn đến quyết định thu hồi đất trái pháp luật nên đề nghị Tòa án hủy quyết định 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T là không có căn cứ.
[6.2] Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T
Ủy ban nhân dân huyện T đã thuê và ký hợp đồng với Công ty Cổ phần thông tin và Thẩm định giá Miền Nam trưng cầu, thẩm định giá đối với phần đất thu hồi thực hiện Công trình công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Ngày 15/10/2020, Công ty Cổ phần thông tin và Thẩm định giá Miền Nam cung cấp chứng thư thẩm định giá số 53/ĐGĐ-LA. Chứng thư thẩm định giá 53/ĐGĐ-LA đã được Hội đồng thẩm định giá đất huyện T, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An, Sở Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh Long An thông qua. Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành quyết định phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để thực hiện công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T tại Quyết định số 4062/QĐ-UBND phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất phổ biến trên thị trường và phù hợp Điều 74, 75 Luật đất đai 2013. Ông H yêu cầu được chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo giá đất cụ thể của thị trường tại thời điểm thu hồi đất là 1.000.000đồng/m2 toàn diện tích đất bị thu hồi, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện giá thị trường tại thời điểm thu hồi là 1.000.000đồng/m2 nên không có cơ sở để chấp nhận.
Từ các căn cứ trên thấy rằng Ủy ban nhân dân huyện T ban hành các quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường cho ông Lê Tấn H là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 69, Điều 74 và Điều 75 Luật Đất đai 2013. Vì vậy ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020; Quyết định 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 và yêu cầu điều chỉnh Quyết định 4276/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 là không có cơ sở nên bác toàn bộ yêu cầu của ông H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Long An tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về án phí: Ông Lê Tấn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hôi .
Căn cứ Điều 66, Điều 67, Điều 69, Điều 74, Điều 75 Luật đất đai năm 2013;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn H, đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc thu hồi đất của ông Lê Tấn H để thi công công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T và ban hành quyết định mới đúng quy định pháp luật;
- Hủy Quyết định số 4298/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T cho ông Lê Tấn H;
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện T điều chỉnh lại Quyết định số 4276/QĐ-UBND ngày 28/12/2020 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ công trình đường số 3 và khai thác quỹ đất cặp đường số 3, xã T, huyện T, theo giá đất cụ thể của dự án, phù hợp với giá đất thị trường theo cầu khởi kiện là 1.000.000đồng/m2 toàn diện tích thu hồi.
2. Về án phí: Ông Lê Tấn H phải nộp án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ 300.000đ ông H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003152 ngày 02/6/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An, ông H đã nộp xong.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! Lương!Minh!Trí! |