- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Vũ Thị Ng, Nguyễn Hoàn S với bị đơn Phan Lê T, Mao Thị Lan V"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/DSST Ngày : 13/01/2022 Vụ án: “T/C hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Bích
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Cán bộ tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân – Kiểm sát viên.
Vào ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 280/TLST-DS ngày 03/7/2021, về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định hoãn phiên tòa số:291/2021/QĐST-DS, ngày 23 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Ng, sinh năm : 1965
Ông Nguyễn Hoàn S, sinh năm: 1963
Địa chỉ: Số 20A, dãy B, đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. ( Có mặt tại phiên tòa)
Bị đơn:
Ông Phan Lê T, sinh năm : 1977
Bà Mao Thị Lan V, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Số 99B, Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. ( Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Vũ Thị Ng và ông Nguyễn Hoàn S trình bày:
Vào ngày 01/8/2020, ông, bà có thỏa thuận cho ông Phan Lê T và bà Mao Thị Lan V vay số tiền là 1.045.000.000 đồng, thỏa thuận thời hạn vay là 12 tháng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng. Việc vay hai bên có làm hợp đồng vay tiền ký cùng ngày 01/8/2020. Tuy nhiên sau khi vay, ông Tuấn, bà Vy chỉ có tiền lãi được 35.000.000 đồng từ đó cho đến nay bị đơn ông Tuấn, bà Vy đã không đóng lãi hàng tháng tiếp tục và cũng không trả vốn khi đến hạn và đã trốn tránh không liên lạc được.
Nay nguyên đơn bà Nga, ông Sơn yêu cầu bị đơn ông Tuấn, bà Vy phải có trách nhiệm trả số nợ vốn 1.045.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật, tính từ ngày vay cho đến khi trả xong số nợ trên.
Đối với bị đơn ông Phan Lê T, bà Mao Thị Lan V mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần thông báo phiên họp công khai chứng cứ, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa bằng phương thức niêm yết, nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án không thu thập được lời khai, cũng như không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Vũ Thị Ng, ông Nguyễn Hoàn S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phan Lê T và bà Mao Thị Lan V phải trả số vốn vay còn nợ là 1.045.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 01/8/2020 cho đến khi trả nợ xong, khấu trừ số tiền 35.000.000 đồng tiền lãi nguyên đơn đã nhận.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
- Đối với Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng theo Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đã xác định đúng về thẩm quyền theo loại việc, theo cấp xét xử và lãnh thổ; về quan hệ pháp luật tranh chấp là đúng; xác định đúng tư cách đương sự; việc thu thập chứng cứ; gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định.
- Đối với Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự thủ tục điều khiển tại phiên tòa.
- Đối với các đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung giải quyết vụ án; Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số nợ vốn 1.045.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 01/8/2020 cho đến khi trả nợ xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1].Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do bị đơn cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn ông Phan Lê T và bà Mao Thị Lan V qua xác minh được Công an phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều xác định ông Tuấn, bà Vy có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 99B, Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, địa chỉ này cũng là địa chỉ mà ông Tuấn, bà Vy ghi trong hợp đồng vay tiền, nhưng hiện đã bán nhà, không còn sinh sống tại địa phương. Nên Tòa án đã tiến hành tống đạt bằng phương thức niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần theo quy định tại Khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2].Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử, xét thấy :
Nguyên đơn bà Vũ Thị Ng, ông Nguyễn Hoàn S khởi kiện bị đơn ông Phan Lê T, bà Mao Thị Lan V đòi lại số tiền nợ gốc 1.045.000.000 đồng, trong hợp đồng vay tài sản, đã cung cấp được chứng cứ là hợp đồng vay tiền ngày 01/8/2020 bản gốc có nội dung ông Phan Lê T, bà Mao Thị Lan V nhận nợ và ký tên. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo hòa giải cho ông Tuấn, bà Vy bằng phương thức niêm yết đúng quy định. Ngoài ra theo quy định tại Khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Việc ông Tuấn, bà Vy sau khi vay nợ của nguyên đơn bà Nga, ông Sơn đã bỏ địa phương đi, thay đổi nơi cư trú mới, (địa chỉ này đã được ghi trong hợp đồng vay tiền), khi chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ và không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn là thuộc trường giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ. Mặc khác về nội dung nguyên đơn kiện bị đơn đòi nợ, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ cũng có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý ông Tuấn nơi công tác biết và đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa số tiền hưởng bảo hiểm xã hội mà ông Tuấn được hưởng khi nghĩ việc để đảm bảo việc thi hành án, nhưng ông, bà cũng không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ của nguyên đơn, nên căn cứ Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây cũng là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay không thu thập được lời khai của bị đơn ông Tuấn, bà Vy, nhưng với những căn cứ như đã phân tích nêu trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn do đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.
Về lãi suất, hiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả lãi suất theo quy định của pháp luật, tính từ ngày 01/8/2020 cho đến khi trả xong số nợ trên. Xét thấy về lãi suất, căn cứ hợp đồng vay tiền và qua lời trình bày của nguyên đơn, thì giữa nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng vay tài sản với nhau, thuộc loại hợp đồng vay có kỳ hạn và có thỏa thuận lãi suất, được điều chỉnh theo Điều 470 của Bộ luật dân sự, nên bị đơn phải có trách nhiệm trả vốn, lãi theo kỳ hạn mà các bên đã thỏa thuận.
Về mức lãi suất căn cứ 468 Bộ luật dân sự có quy định các bên cho có quyền thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng vay tài sản nhưng không được vượt quá 20%/năm. Xét thấy, việc vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận lãi suất cho vay là 2%/tháng, tức 24%/năm là vượt quá quy định của Bộ luật dân sự, nên cần điều chỉnh lại mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự để buộc bị đơn trả. Cụ thể như sau:
1.045.000.000 đồng x 20%/năm (Tức 1,6%/tháng) x ( tính tròn 17 tháng) = 284.240.000 đồng trừ đi 35.000.000 đồng đã trả lãi, số tiền còn lại bị đơn phải trả là 249.240.000 đồng. Ngoài ra bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo mức 20%/năm cho đến khi thi hành án xong.
- Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tiếp tục thực hiện để đảm bảo thi hành án.
[3].Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4].Về ý kiến phát biểu nhận xét việc chấp hành Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, của các đương sự và đề nghị nội dung giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 463; 466; 468; 470 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị Ng và ông Nguyễn Hoàn S.
- Buộc bị đơn ông Phan Lê T và bà Mao Thị Lan V phải có trách nhiệm trả cho bà Vũ Thị Ng và ông Nguyễn Hoàn S số tiền nợ vốn 1.045.000.000 đồng và nợ lãi 249.240.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 1.294.240.000 đồng (Một tỷ, hai trăm chín mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, mà bị đơn chưa trả số tiền trên, thì còn phải chịu lãi suất trên nợ gốc theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 06/2021/QĐ-BPKCTT, ngày 22 tháng 7 năm 2021 về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ” để đảm bảo thi hanh án.
Về án phí dân sự sơ thẩm : Bị đơn ông Phan Lê T và bà Mao Thị Lan V phải nộp 50.827.200 đồng (Năm mươi triệu, tám trăm hai mươi bày ngàn hai trăm đồng).
-Nguyên đơn bà Vũ Thị Ng và ông Nguyễn Hoàn S được nhận lại tiền tạm ứng án phí 24.675.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0001212, ngày 08/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND quận Ninh Kiều; - Chi cục THADS quận Ninh Kiều; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | BÙI XUÂN ÁNH |