vanban.org

Bản án 06/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về m…

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho bà P số tiền hụi 287.000.000 đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P về việc buộc ông Lê Hùng A phải có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả 812.000.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về m…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐI N
T NH À ỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/DS – ST
Ngày: 14 – 3 – 2022
V/v: Tranh chấp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐI N, T NH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Bình

Các H i thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Di

2. Ông Huỳnh Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

- Đại diện Viện kiểm sát hu ện on Đi n tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2021/TLST – DS ngày 18 tháng 11 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST – DS ngày 11/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST – DS ngày 25/02/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N; sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hùng A, sinh năm 1974. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của n u ên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P tại T a n:

Bà Nguyễn Thị Ngọc N tham gia chơi hụi với bà Nguyễn Thị Ngọc P cụ thể như sau:

* Phần bà P chơi hụi của bà N mở:

Ngày 20/6/2018, bà N mở dây hụi có 31 hụi viên tham gia, số tiền góp hàng tháng là 5.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi đầu thảo (có lời), ngày 20/10 âm lịch hàng tháng khui, hốt chót là 150.000.000 đồng (sau khi trừ 01 phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 20/11/2020.

Bà P chơi 06 phần, đã đóng 27 tháng x 5.000.000 đồng x 6 phần = 810.000.000 đồng - 270.000.000 (là số tiền 02 phần đã hốt, hốt phần thứ nhất vào ngày 20/8/2019 với giá 1.200.000 đồng, phần thứ 02 vào ngày 20/02/2020 với giá 1.100.000 đồng) còn lại 540.000.000 đồng (04 phần hụi còn sống của bà P). Bà N đã trả 100.000.000 đồng, còn thiếu của bà P 440.000.000 đồng.

* Phần bà N chơi hụi của bà P mở:

- Ngày 30/01/2019, bà P mở dây hụi 23 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 1.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót là 22.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 30/10/2020. Bà N chơi 02 phần, đã hốt phần thứ nhất vào ngày 30/7/2019 với giá 120.000 đồng, hốt phần thứ 02 vào ngày 30/12/2019 với giá 120.000 đồng.

Bà N đã đóng 19 tháng còn 04 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 04 tháng x 2 phần x 1.000.000 đồng = 8.000.000 đồng.

- Ngày 05/02/2019, bà P mở dây hụi 26 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 2.000.000 đồng, hình thức chơi hụi lấy tiền cò), khui hàng tháng, hốt chót là 50.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 05/02/2021. Bà N chơi 04 phần, tháng 8/2019 bà N hốt phần thứ nhất giá 450.000 đồng, tháng 11/2019 hốt phần thứ 2 giá 450.000 đồng, tháng 02/2020 hốt phần thứ 3 giá 380.000 đồng, đến tháng 6/2020 hốt phần thứ 4 giá 350.000 đồng.

Bà N đã đóng 18 tháng, còn 08 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 8 tháng x 4 phần x 2.000.000 đồng = 64.000.000 đồng.

- Ngày 15/12/2019, bà P mở dây hụi 13 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 1.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót là 12.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 15/12/2020. Bà N chơi 01 phần, đã hốt vào tháng 5/2020 với giá 180.000 đồng.

Bà N đã đóng 08 tháng, còn 05 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 05 tháng x 1.000.000 đồng = 5.000.000 đồng.

- Ngày 25/12/2019, bà P mở dây hụi 26 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 2.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót là 50.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 25/12/2021. Bà N chơi 02 phần, đã hốt hết 02 phần.

Bà N đã đóng 08 tháng, còn 18 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 18 tháng x 2 phần x 2.000.000 đồng = 72.000.000 đồng.

- Ngày 30/12/2019, bà P mở 01 dây hụi 26 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 2.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi ăn tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót là 50.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 30/12/2021. Bà N chơi 02 phần, hốt phần thứ nhất vào ngày 30/01/2020 với giá 500.000 đồng, hốt phần thứ 02 vào ngày 30/4/2020 với giá 450.000 đồng, 01 phần chưa hốt của bà N đã đóng 8 tháng dư ra được số tiền 14.200.000 đồng.

Bà N đã đóng 08 tháng, còn 18 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 18 tháng x 4 phần x 2.000.000đ = 72.000.000 đồng.

- Ngày 20/02/2020, bà P mở 01 dây hụi với 28 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 2.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót là 54.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 20/4/2022. Bà N chơi 02 phần, đã hốt phần thứ nhất vào ngày 20/4/2020 với giá 500.000 đồng, hốt phần thứ 2 vào ngày 20/6/2020 với giá 450.000 đồng.

Bà N đã đóng 05 tháng, còn 23 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 23 tháng x 2 phần x 2.000.000 đồng = 92.000.000 đồng.

- Ngày 30/02/2020, bà P mở dây hụi với 31 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 5.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy đầu thảo, khui hàng tháng, hốt chót là 150.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi). Bà N chơi 03 phần, đã hốt 02 phần (vào ngày 30/04/2020 hốt phần thứ nhất với giá 1.200.000 đồng, phần thứ 2 hốt vào ngày 30/6/2020 với giá 1.100.000 đồng), 01 phần chưa hốt của bà N đã đóng 06 tháng dư ra số tiền 24.500.000 đồng.

Bà N đã đóng 06 tháng còn 25 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 25 tháng x 2 phần x 5.000.000 đồng = 250.000.000 đồng.

- Ngày 15/04/2020, bà P mở dây hụi với 21 hụi viên, số tiền góp hụi mỗi tháng 2.000.000 đồng, hình thức chơi là hụi lấy tiền cò, khui hàng tháng, hốt chót 1à 40.000.000 đồng (sau khi trừ đi phần của người chơi), mãn hụi vào ngày 15/11/2021. Bà N chơi 03 phần, đã hốt 02 phần, còn sống 01 phần.

Bà N đã đóng 05 tháng, còn 16 tháng bà N chưa đóng cho bà P: 16 tháng x 2 phần x 2.000.000 đồng = 64.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền phần bà P chơi hụi của bà N nhưng bà N chưa thanh toán cho bà P là 440.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi triệu đồng); tổng số tiền phần bà N chơi hụi của bà P nhưng chưa đóng cho bà P là 659.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi chín triệu đồng chẵn). Tổng cộng hai phần trên, bà N còn nợ của bà P là: 659.000.000 đồng + 440.000.000 đồng = 1.099.000.000 (một tỷ không trăm chín mươi chín triệu đồng).

Tại đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung đề ngày 16/12/2021, Bà P cho rằng ông Lê Hùng A chồng bà N có biết việc chơi hụi của bà N, có thấy bà P giao tiền hụi cho bà N, số tiền bà N hốt hụi dùng vào việc kinh doanh lúa gạo vì nhà bà N có cơ sở sản xuất lúa gạo. Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N và chồng là ông Lê Hùng A phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền 1.099.000.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi chín triệu đồng chẵn).

Quá trình hòa giải tại Tòa án ngày 17/01/2022, sau khi cấn trừ bà P và bà N đã thống nhất số tiền bà N còn nợ bà P là 872.000.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:

Bà N thừa nhận có tham gia chơi các dây hụi với bà P như bà P trình bày và còn nợ tiền hụi của P số tiền 764.700.000 đồng. Tại buổi hòa giải ngày 17/01/2022, bà N đồng ý còn nợ bà P số tiền 872.000.000 đồng. Tuy nhiên do làm ăn khó khăn chưa có điều kiện trả nợ nên bà N đề nghị bà P cho bà N được từ từ trả nợ dần. Đối với yêu cầu của bà P buộc chồng bà là ông Lê Hùng A phải liên đới cùng bà N trả nợ cho bà P thì bà N không đồng ý. Lý do số tiền bà N chơi hụi và nợ của bà P là do bà tin tưởng chơi giùm một số người quen nhưng khi hốt hụi xong thì họ bỏ trốn nên bà không đòi được tiền trả nợ cho bà P. Bà N không dùng số tiền này vào mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu hay kinh doanh của gia đình. Ông Lê Hùng A không biết và không liên quan đến việc này.

Đối với n ười có quy n lợi, n hĩa vụ liên quan ông Lê Hùng A: Trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử, ông Lê Hùng A đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông A vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên t a:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N cho rằng đã trả thêm bà P 60.000.000 đồng trước đó nên bà chỉ còn nợ bà P 812.000.000 đồng; bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn buộc chồng bà là ông Lê Hùng A phải liên đới cùng bà trả số tiền hụi còn nợ cho bà P.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P xác nhận bà N đã trả thêm được 60.000.000 đồng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N và ông Lê Hùng A có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền hụi còn nợ là 812.000.000 đồng.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nh n d n hu ện :

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng thành phần, tư cách của những người tham gia tố tụng, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng x t xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà N phải trả cho bà P 287.000.000 đồng tiền hụi; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà N phải trả lại cho bà P số tiền 812.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Hùng A phải liên đới cùng bà N trả 812.000.000 đồng cho bà P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc N và ông Lê Hùng A trả tiền hụi còn nợ; bị đơn đang cư trú tại huyện L nên Tòa án xác định đây là “Tranh chấp hụi” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Hùng A đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông A theo luật định.

Về n i dung:

Bà Nguyễn Thị Ngọc P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N phải trả cho bà tổng số tiền hụi còn nợ là 1.099.000.000 đồng. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N thừa nhận có tham gia chơi các dây hụi như bà P đã trình bày, các dây hụi trên đã mãn và bà chỉ thừa nhận còn nợ bà P 764.700.000 đồng. Quá trình hòa giải tại Tòa án ngày 17/01/2022, sau khi cấn trừ lại các khoản, bà P và bà N thống nhất bà N còn nợ bà P số tiền hụi 872.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bà N cho rằng đã trả thêm bà P 60.000.000 đồng nên chỉ còn nợ bà P 812.000.000 đồng và được bà P chấp nhận. Vì vậy HĐXX có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc bà N phải trả cho bà P số tiền hụi 812.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà P yêu cầu ông Lê Hùng A phải liên đới cùng bà N trả tiền hụi cho bà P, HĐXX nhận thấy:

Quá trình bà P và bà N tham gia chơi hụi với nhau không có ông Lê Hùng A tham gia. Bà P cho rằng ông Lê Hùng A có biết việc bà N chơi hụi với bà P, có thấy bà P giao tiền hụi cho bà N, số tiền bà N hốt hụi là dùng vào việc kinh doanh lúa gạo vì nhà bà N có cơ sở sản xuất lúa gạo, duy trì đáp ứng nhu cầu làm ăn để sinh lợi nhuận phục vụ cho gia đình. Nên ông Lê Hùng A phải có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả tiền hụi còn thiếu cho bà P. Tuy nhiên bà P không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu trên.

Bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày số tiền chơi hụi với bà P là do bà chơi giùm nhiều người quen nhưng sau đó họ bỏ trốn, bà không dùng số tiền trên vào mục đích thiết yếu hay kinh doanh của gia đình, ông Lê Hùng A không biết và không liên quan đến việc chơi hụi của bà N. Đồng thời quá trình giải quyết vụ án cũng như khi x t xử ông Lê Hùng A vắng mặt và không có văn bản ý kiến phản hồi. Vì vậy HĐXX không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà P buộc ông Lê Hùng A chồng bà N phải có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả tiền hụi cho bà P.

Về án phí dân s sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của bà P được Tòa án chấp nhận nên bà N phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên giá trị tranh chấp là 812.000.000 đồng.

Bà P không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự;

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho bà P số tiền hụi 287.000.000 đồng.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P về việc buộc ông Lê Hùng A phải có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả 812.000.000 đồng tiền hụi cho bà P.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P,

buộc bà Nguyễn Thị Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc P số tiền hụi 812.000.000 đồng (Tám trăm mười hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của B luật Dân s năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu số tiền 36.360.000 đồng (ba mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Ngọc P không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho bà P số tiền 22.125.000đ (hai mươi hai triệu, một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008573 ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/3/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .

Cỡ chữ