vanban.org

Bản án 06/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ".

Xử phạt: Bị cáo Lý Thái L 02 ( Hai ) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 15.10.2020. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thái L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HSST
Ngày 27.01.2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Công Chi, Cán bộ hưu trí

2/ Bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh, Nơi công tác: Trường Cao đẳng kế hoạch

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 27.01.2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 121/2020/HSST ngày 21.12.2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 12.01.2021 đối với bị cáo:

Lý Thái L. (M). Sinh ngày: 26.4 1986 tại Đà Nẵng.

Nơi cư trú: Tổ 27, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.Giới tính: Nam

Con ông: Lý Thái P (1959) và bà: Trần Thị S (1963).

Vợ: Phạm Thị Thảo N (1994). Có 01 con sinh năm 2012

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 17/01/2020, bị Công an phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê ra Quyết định số 15/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng. Nộp tiền xong ngày 11/02/2020.

Nhân thân:

- Ngày 24/4/2007, bị Tòa án Quân sự quân khu 5 xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2010

- Ngày 22/10/2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu TP. Đà Nẵng ra Quyết định số 103/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng. Nộp tiền xong ngày 13/11/2020.

Bị bắt ngày 15/10/2020, Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Nho H, sinh năm 1976.(vắng mặt)

Trú tại: tổ 68, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

*Người làm chứng: Ông Trần Lê Quốc V, sinh năm 2000.(có mặt)

Trú tại: tổ 08, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21h00’ ngày 27/08/2020, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Lý Thái L đã điện thoại cho một nam thanh niên tên Tý (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua một gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và hẹn giao dịch tại trước Nhà 2 chung cư Hòa Hiệp Nam thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. L điều khiển xe máy hiệu Yamaha Jupiter BKS: 92N8 - 9677 đến chỗ hẹn để lấy ma túy, sau đó cất giấu gói ma túy vừa mua vào trong quần lót. Đến 21h40’ cùng ngày, tổ tuần tra của Đội ma túy Công an quận Liên Chiểu phối hợp với Công an phường Hòa Hiệp Nam đang tuần tra trên đường, phát hiện L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ trong quần lót của L 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy loại Methamphetamine (ký hiệu A) nên lập biên bản sự việc và thu giữ các tang vật khác có liên quan.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lý Thái L đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu ra Quyết định truy nã số: 10/CSĐT ngày 18.9.2020, đến ngày 15.10.2020 thì bắt được Lý Thái L.

* Theo Kết luận giám định số 257/GĐ-MT ngày 07/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

Tinh thể màu trắng trong 01 gói ni lông niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,608 gam.

* Vật chứng thu giữ: 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy loại Methamphetamine (ký hiệu A); 01 điện thoại di động hiệu Vivo không gắn thẻ sim. Những vật chứng này chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý. Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 92N – 9677 hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đang tạm thời quản lý.

Tại Bản cáo trạng số 03/KS-ĐT ngày 21.12.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lý Thái L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lý Thái L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như bản cáo trạng số 04/KS-ĐT ngày 09.01.2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249 BLHS; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về phần xử lý vật chứng như đã đề cập tại Bản cáo trạng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Thái L đã thành khẩn, khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21h40’ ngày 27.8.2020, tại trước Nhà 2 chung cư Hòa Hiệp Nam thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Công an quận Liên Chiểu phối hợp với Công an phường Hòa Hiệp Nam tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ và bắt quả tang Lý Thái L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khám xét trong người bị cáo thu giữ một gói nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy có ký hiệu là A

* Theo Kết luận giám định số 257/GĐ-MT ngày 07/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói ni lông niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,608 gam.

Số ma túy nói trên do Lý Thái L mua của một đối tượng tên Tý (chưa rõ lai lịch) đem về sử dụng.

Hành vi phạm tội của Lý Thái L đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Như vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Ma túy là một loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nhà nước ta nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt sử dụng trái phép các chất ma túy, nếu ai vi phạm một trong các quy định trên, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý. Bị cáo nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo bất chấp sự trừng trị của pháp luật, đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người có nhân thân xấu, trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn và bị bắt truy nã nên gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Do vậy việc đưa bị cáo ra xét xử để áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm để giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mới trở thành người tốt.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo có công với cách mạng. Do vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt khi lượng hình để thể hiện tính nhân đạo của nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án có: Đối với nam thanh niên tên Tý (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho L, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch của đối tượng này nên sẽ tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho Lý Thái L 01 điện thoại di động hiệu Vivo không gắn thẻ sim.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 92N - 9677 đã tạm giữ của Lý Thái L, quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là Nguyễn Nho H (Trú tại: phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), Hải mua xe này vào năm 2005. Đến năm 2006, Hải bán xe mô tô trên cho một người đàn ông tên Ka (không rõ nhân thân, địa chỉ) chỉ viết giấy bán tay, không công chứng hợp đồng làm thủ tục sang tên xe. L khai nhận mua xe mô tô nêu trên từ một người tên là “Bi” (không rõ nhân thân lai lịch), L và Bi chỉ thỏa thuận bằng miệng, không lập hợp đồng mua bán xe. Xét thấy chiếc xe mô tô này chưa rõ nguồn gốc nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu tiếp tục tạm giữ để xác M, xử lý sau.

(vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 22.01.2020 Chi cục Thi hành án quận Liên Chiểu đang quản lý)

Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Lý Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ".

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Lý Thái L 02 ( Hai ) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 15.10.2020.

2.Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho Lý Thái L 01 điện thoại di động hiệu Vivo không gắn thẻ sim.

(vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 22.01.2020 Chi cục Thi hành án quận Liên Chiểu đang quản lý)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm iết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ