vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 26/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H (Cò) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 16/8/2020 đến ngày 19/8/2020).

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu xanh đậm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Thị xã N và Chi cục Thi hành án Dân sự Thị xã N ngày 25/11/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H (Cò) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 16/8/2020 đến ngày 19/8/2020).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày 26-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tôn

2. Bà Nguyễn Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/HSST-QĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy H (tên gọi khác Cò), sinh năm 1993 tại Ninh Hòa, Khánh Hòa; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Hớn V (sinh năm 1962) và bà Phạm Thị M (sinh năm 1962); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/8/2020 đến ngày 19/8/2020, ngày 11/11/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Vũ Thị Thanh T - sinh năm 1969

Trú tại: Thôn X, xã P, thị xã N, Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lữ Tấn H - sinh năm 1980

Trú tại: Tổ dân phố 14, phường H, thị xã N, Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Diệp Bảo Vương Tuấn C - sinh năm 1984

Trú tại: Tổ dân phố 2, phường H, thị xã N, Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Nguyễn Thị Thanh D - sinh năm 1986

Trú tại: Tổ dân phố 9, phường H, thị xã N, Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, Nguyễn Duy H điều khiển xe mô tô biển số 79H1-279.84 (thuê của cửa hàng S do ông Lữ Tấn H làm chủ) đến quán bà Vũ Thụy Thanh T ở Thôn X, xã P, thị xã N để mua card điện thoại. Khi bà T đang lấy card, H thấy bà T để 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 trên đùi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. H đưa 20.000 đồng, cầm lấy card bà T đưa rồi nhanh chóng giật điện thoại và điều khiển xe mô tô đang nổ máy sẵn bên ngoài tẩu thoát. Quá trình bỏ chạy, H làm rơi 01 ví da màu đen bên trong có 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 hợp đồng thuê xe và 272.000 đồng. Đến 10 giờ ngày 16/8/2020, H đến cửa hàng D do ông Diệp Bảo Vương Tuấn C làm chủ cầm cố lấy 1.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐG ngày 27/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N xác định: điện thoại di động Samsung A10 có giá trị là 1.873.300 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động Samsung A10, 1.000.000 đồng; 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 chứng minh nhân dân, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Duy H được cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu.

Về phần dân sự: Bị hại bà Vũ Thụy Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Tấn H, ông Diệp Bảo Vương Tuấn C không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-HS ngày 24/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N giữ nguyên quan điểm và điều luật đã truy tố như bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Vũ Thụy Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Tấn Hiệp, ông Diệp Bảo Vương Tuấn C, bà Nguyễn Thị Thanh D không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động Samsung A10, 1.000.000 đồng; 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 chứng minh nhân dân, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Duy H đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị không Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 áo khoác dài tay màu xanh đậm của bị cáo nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diệp Bảo Vương Tuấn C, bà Nguyễn Thị Thanh D có đơn xin xét xử vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Tấn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N đã truy tố, thể hiện: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, để có tiền tiêu xài Nguyễn Duy H đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Samsung A10 của bà Vũ Thụy Thanh T, có giá trị là 1.873.300 đồng tại Thôn X, xã P, thị xã N. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn ngang nhiên chiếm đoạt của người khác với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần xem xét giảm cho cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại bà Vũ Thụy Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diệp Bảo Vương Tuấn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Tấn H và bà Nguyễn Thị Thanh D vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng:

- 01 điện thoại di động Samsung A10, 1.000.000 đồng; 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 chứng minh nhân dân, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Duy H đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 áo khoác dài tay màu xanh đậm của bị cáo nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại. Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H (Cò) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 16/8/2020 đến ngày 19/8/2020).

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu xanh đậm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Thị xã N và Chi cục Thi hành án Dân sự Thị xã N ngày 25/11/2020).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND thị xã N;

- Chi cục THADS thị xã N;

- Công an thị xã N;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Đặng Thị Ái Vy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND thị xã N;

- Chi cục THADS thị xã N;

- Công an thị xã N;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Đặng Thị Ái Vy

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ