- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày 20-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Ân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn
2. Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2020/TLST-HS ngày 30/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-HS ngày 05/01/2021 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Văn X, sinh năm 1992.
- Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12;
- Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969.
- Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1968.
- Gia đình có 03 con, bị cáo là con thứ hai.
- Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1981.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- Bị cáo bị gi trong trường hợp khẩn c p, bị tạm gi , tạm giam t ngày 27/10/2020 đến ngày 18/12/2020 thì được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Chị An Ánh T2, sinh năm 1992 (Vắng mặt )
Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992
(Vắng mặt )
Trú tại: Số 10, ngách 46, ngõ 165, đường Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng
- Chị Trương Hải H, sinh năm 1996
(Vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975
(Vắng mặt)
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Bà Đặng Thị L, sinh năm 1956
(Vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Anh Trần Quang C, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ 5, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975
(Có mặt)
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1968
(Có mặt)
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 7 năm 2020, Nguyễn Văn X, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã lập một tài khoản acebook mang tên Duong Hoang Anh và tham gia vào nhóm Hội nhâm thân Bắc Giang 1992 trên mạng xã hội acebook. Thông qua các buổi gặp mặt do nhóm Hội nhâm thân Bắc Giang 1992 tổ chức, X quen biết với chị An Ánh T, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do chị T c ng là thành viên trong nhóm và thường bán các sản phẩm chăm sóc sức kh e, sắc đ p và thực phẩm chức năng qua hình thức bán hàng online trên mạng xã hội acebook. Bản thân X không có việc làm ổn định nhưng X tự giới thiệu với chị T mình tên là Dương Hoàng A ( acebook mang tên Duong Hoang Anh ), sinh năm 1992, quê ở huyện Y, tỉnh Bắc Giang, hiện đang là công an công tác tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang. Cuối tháng 9/2020, qua các buổi nói chuyện, X biết chị T đang có nhu cầu tìm việc làm nên X đã nảy sinh ý định l a xin việc cho chị T để l y tiền tiêu xài cá nhân. X nói dối với chị T là có thể xin cho chị T làm văn thư tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang thì được chị T đồng ý. Đầu tháng 10 năm 2020, X đặt mua c a chị T 01 hộp tinh dầu nghệ nano c a Hàn Quốc và 02 hộp thực phẩm chức năng An cung ngưu hoàng hoàn có giá 5.800.000 đồng. Ngày 11/10/2020, X h n gặp chị T tại quán nước ở số 174, đường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để l y hàng c ng như bàn về chuyện xin việc cho chị T. Tại đây, X tiếp tục nói chuyện với chị Tvề việc xin việc thì chị T đồng ý nhờ X xin việc cho mình. X nói dối với chị T là muốn sau này vào được biên chế thì cần có chứng chỉ c a Trường trung c p An ninh hết 10.000.000 đồng nhưng X s lo chứng chỉ cho chị T chỉ m t 8.000.000 đồng. Chị T đồng ý s đưa cho X 8.000.000 đồng nhưng chị T không mang theo tiền nên X đề nghị chuyển 5.800.000 đồng tiền mua hàng c a chị T thành tiền xin việc thì chị Tuyết đồng ý.
Tối ngày 11/10/2020, do không có tiền chi tiêu nên X đã gọi điện cho chị T yêu cầu chị T phải chuẩn bị 5.000.000 đồng để lo việc và h n chị T ngày 12/10/2020 chuyển tiền cho X. Sáng ngày 12/10/2020, X vay c a bạn gái là chị Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1992, ở số 10 ngách 46, ngõ 165 phường L, quận N, thành phố H số tiền 5.000.000 đồng và nói với chị Ngọc A là chị T s chuyển khoản trả chị Ngọc A. Đồng thời, X xin số tài khoản ngân hàng c a chị Ngọc A. Trưa ngày 12/10/2020, X tiếp tục gọi điện cho chị T yêu cầu chuyển tiền cho mình nhưng do X không có tài khoản ngân hàng nên đã yêu cầu chị T chuyển tiền vào tài khoản 19032799795019 c a ngân hàng thương mại cổ phần K thương Việt Nam, chi nhánh Hải Phòng là số tài khoản ngân hàng c a chị Ngọc A. Chị T đồng ý và đưa cho Trần Quang C, sinh năm 1981, trú tại tổ 5, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang 5.000.000 đồng và nhờ anh C d ng tài khoản c a anh C tại ngân hàng thương mại cổ phần K thương Việt Nam, số tài khoản 19035797784019 chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng c a chị Ngọc A.
Ngày 16/10/2020, do không có tiền tiêu xài, X tiếp tục gọi điện cho chị T yêu cầu chị T chuẩn bị thêm cho X 5.000.000 đồng n a để X làm quà biếu sếp thì chị T đồng ý. Ngày 17/10/2020, X gọi điện yêu cầu chị T chuyển tiền qua tài khoản cho X nhưng do chị T bận không đi chuyển khoản được nên X h n buổi chiều c ng ngày X s đến nhà chị T l y tiền. Khoảng 17 giờ c ng ngày, X một mình đến nhà chị T tại tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, chị T đưa cho X số tiền 5.000.000 đồng và tặng X 02 con gà, bà Đặng Thị L (m T), sinh năm 1956, trú tại tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang tặng Xuân 05 quả bưởi và 01 túi chanh để cảm ơn X xin việc giúp.
Để chị T tin tưởng mình, khoảng gi a tháng 10/2020, X yêu cầu chị T làm 01 bộ hồ sơ xin việc gồm: Gi y chứng minh nhân dân, b ng tốt nghiệp cao đ ng c a chị T (t t cả đều được photo công chứng), gi y xác nhận lý lịch, sơ yếu lý lịch xin việc và 02 ảnh chân dung 4x6 c a chị T. Khoảng 14 giờ ngày 23/10/2020, chị T đi c ng bạn là chị Trương Hải H, sinh năm 1996 ở c ng tổ dân phố với T đến trước cửa hiệu sách nhân dân thành phố Bắc Giang đưa cho X bộ hồ sơ xin việc trên. X nhận hồ sơ do T đưa và h n chị T sáng ngày 26/10/2020 thì đến cơ quan c a X để xem công việc. Sau đó, X đã làm m t bộ hồ sơ trên.
Sáng ngày 26/10/2020, chị T xuống thành phố Bắc Giang để c ng X đi xem việc như đã h n nhưng không liên lạc được với X. Đến buổi trưa c ng ngày, X liên hệ với chị T và nói là đang có việc cá nhân, h i vay c a chị T số tiền 10.000.000 đồng. Chị T nói chỉ mang theo 7.000.000 đồng thì X đề nghị chị T cho X vay số tiền trên. Chị T đồng ý thì X bảo chị Tuyết cứ chờ s có người liên lạc với chị T để l y tiền. Sau đó X nhờ anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 ở c ng thôn, làm nghề lái xe taxi lên thành phố Bắc Giang để gặp T tại quán ca e Aha ở số 154-156 đường H, phường H, thành phố B để l y tiền hộ X.
Sau nhiều lần hứa h n xin việc nhưng không được, chị T nghi ngờ X có d u hiệu l a đảo nên đã đến cơ quan công an trình báo sự việc trên. Khoảng 18 giờ 26/10/2020, tại quán ca e Aha, khi T v a giao số tiền 7.000.000 đồng cho anh N thì tổ công tác Công an thành phố Bcó mặt, kiểm tra, phát hiện. Quá trình làm việc, cơ quan công an đã tạm gi 01 chứng minh thư nhân dân mang số 121628910 tên Nguyễn Văn N và số tiền 7.000.000 đồng.
Ngày 27/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bđã ra lệnh gi người trong trường hợp khẩn c p đối với Nguyễn Văn X. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn X khai nhận đối với số hàng mua c a T gồm 01 hộp tinh dầu nghệ nano c a Hàn Quốc thì X tặng Ngọc A; 02 hộp thực phẩm chức năng An cung ngưu hoàng hoàn X đưa cho m X là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968 ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sử dụng, còn số tiền 10.000.000 đồng X chi tiêu cá nhân hết. Ngoài ra, X còn vay tiền c a chị Tuyết 02 lần, tổng số tiền 4.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân.
Cơ quan điều tra đã cho chị An Ánh T, chị Nguyễn Ngọc A và chị Trương Hải H tiến hành nhận dạng qua ảnh, kết quả chị T, chị Ngọc A, chị H đều nhận ra Nguyễn Văn X là đối tượng tự giới thiệu tên Dương Hoàng A và nhận hồ sơ xin việc c a T
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 29/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bđã truy tố bị cáo Nguyễn Văn X về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận nội dung, diễn biến hành vi phạm tội c a bị cáo như Cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Btruy tố bị cáo về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi c a mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.
Anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số tiền ông đã b ra bồi thường và trả cho bị hại
Bà L trình bày không biết 02 lọ thực phẩm chức năng do X cho bà là tài sản phạm tội mà có
- Hội đồng xét xử công bố lời khai c a nh ng người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.
- Đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội L a đảo chiếm đoạt tài sản .
+ Về hình phạt: Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 c a Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X t 10 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách t 20 đến 24 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách
+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 c a Bộ luật hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 356697087195007, điện thoại c đã qua sử dụng, mặt trước được dán b ng miếng dán cường lực trong suốt, mặt sau có ốp lưng b ng da màu đen, trên ốp lưng có in ch PLATNUM . Tịch thu tiêu h y 01 sim điện thoại số 0985.033.582.
+ Về án phí: Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội c a Viện kiểm sát
Bị cáo nói lời sau c ng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc vợ
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đ , toàn diện chứng cứ, phần trình bày c a bị cáo tại phiên tòa và ý kiến c a Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội c a bị cáo, lời khai c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản nhận dạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đ cơ sở kết luận: Trong tháng 10 năm 2020, trên địa bàn thành phố B, b ng th đoạn tự giới thiệu là cán bộ công an, Nguyễn Văn X đã có hành vi gian dối chiếm đoạt tổng số tiền 15.800.000 đồng c a chị An Ánh T, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố Đ, thị tr n K, huyện L, tỉnh Bắc Giang b ng hình thức hứa xin việc làm.
[2.1]. Hành vi c a bị cáo đã có đ yếu tố c u thành tội L a đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 c a Bộ luật Hình sự
[2.2]. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.3]. Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân bị cáo đã d ng th đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin c a bị hại để chiếm đoạt số tiền 15.800.000 đồng. Hành vi c a bị cáo đã xâm phạm quyền sở h u tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ và gây m t trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý bị cáo b ng pháp luật hình sự.
. Xét về nhân thân c a bị cáo thì th y: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
. Xét về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội c a mình; bị hại có đơn xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đây là nh ng tình tiết giảm nh một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét hành vi, tính ch t, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự c a bị cáo, Hội đồng xét xử th y: Bị cáo là con em lao động nh t thời phạm tội, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa t ng bị xét xử; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự nên không cần bắt bị cáo phải cách ly kh i xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương c ng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội được quy định tại Điều 65 c a Bộ luật Hình sự.
Ngoài hình phạt chính l ra cần áp dụng Khoản 5 Điều 174 c a Bộ luật hình sự để phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo t 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử th y bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, vợ mắc bệnh hiểm nghèo, gia đình thuộc hộ nghèo nên cần miễn hình phạt bổ sung b ng tiền cho bị cáo là ph hợp với quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn N là người được bị cáo X nhờ đến gặp chị T để nhận số tiền 7.000.000 đồng mà chị T gửi cho X. Tuy nhiên anh N không biết nội dung giao dịch gi a X và chị T, không biết hành vi l a đảo c a X nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với anh N là đúng quy định pháp luật.
Chị Nguyễn Ngọc A là người cho bị cáo X mượn thẻ ngân hàng để chị T chuyển tiền cho X và được X tặng 01 hộp tinh dầu nghệ nano c a Hàn Quốc để sử dụng. Tuy nhiên, chị Ngọc A không biết hành vi phạm tội c a X nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với chị Ngọc A là đúng quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị L được bị cáo X đưa cho 02 hộp thực phẩm chức năng An cung ngưu hoàng hoàn để sử dụng, nhưng bà L không biết 02 hộp thực phẩm chức năng trên do X phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với bà L là đúng quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là chị An Ánh T đã nhận đ số tiền bị cáo X chiếm đoạt 15.800.000 đồng và số tiền bị cáo X vay 4.000.000 đồng. Nay chị T không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H đại diện cho gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị T số tiền bị cáo X chiếm đoạt 15.800.000 đồng và số tiền bị cáo X vay 4.000.000 đồng. Anh H không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, gắn số sim: 0985.033.582; số IMEI: 356697087195007, điện thoại c đã qua sử dụng, mặt trước được dán b ng miếng dán cường lực trong suốt, mặt sau có ốp lưng b ng da màu đen, trên ốp lưng có in ch PLATNUM bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 c a Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn X 01 (một) năm t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính t ngày tuyên án sơ thẩm (20/01/2021). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định c a Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải ch p hành hình phạt t c a bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 c a Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 356697087195007, điện thoại c đã qua sử dụng, mặt trước được dán b ng miếng dán cường lực trong suốt, mặt sau có ốp lưng b ng da màu đen, trên ốp lưng có in ch PLATNUM . Tịch thu tiêu h y 01 sim điện thoại số 0985.033.582.
. 4. Về án phí: Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc hội c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị hại và người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày được tống đạt bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND TP.Bắc Giang; - Công an TP. Bắc Giang; - Chi cục THADS TP. Bắc Giang; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Ân |