vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Đoàn Phương N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Phương N 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Phương N - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Đoàn Phương N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 06/2021/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 02 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thảo nguyên;

Ông Phan Phi Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Châu – Thẩm tra viên TAND tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021, đối với:

Bị cáo Đoàn Phương N, sinh ngày 24 tháng 01 năm 1997, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Cồn Bồi Kiệt, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Đoàn Văn Trị và bà Lê Thị Thùy Vân; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/9/2020 đến ngày 21/12/2020; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Do có quen từ trước nên trưa ngày 31/8/2020, Đoàn Phương N đang ăn cơm tại nhà mình thì nhận được điện thoại của bà Hương (không rõ địa chỉ) thuê N lái xe ô tô biển kiểm soát 29C-94.776 chở thuốc lá điếu từ thị xã Quảng Trị vào giao ở gần cầu Tuần, đường tránh Huế, với giá 1.400.000 đồng. Bà Hương nói sẽ có người liên lạc địa điểm giao hàng. N biết thuốc lá là hàng cấm nhưng vì hám lợi đã đồng ý. Sau đó, N điện cho một người tên là Xít đi cùng xe phụ bốc hàng, tiền công là 300.000 đồng. Xít đồng ý và điều khiển xe mô tô đến nhà chở N đến địa điểm nhận xe ô tô 29C- 94.776, ở đường nhựa giao nhau với đường Phan Bội Châu (thuộc địa phận khu phố 2, phường 1, thị xã Quảng Trị). Tại vị trí xe ô tô dừng, có hai người đàn ông (không rõ danh tính) đang đứng đợi, họ yêu cầu N mở thùng xe và một người đàn ông lên thùng xe bốc những thùng nhựa, thùng xốp rỗng xuống. N, Xít và người đàn ông còn lại bốc 08 thùng các tông được đóng trong bao gai màu xanh lên xe. Sau đó, tiếp tục bốc những thùng nhựa và thùng xốp rỗng lên che đậy hàng. Tiếp đó, hai người đàn ông mở khoang gia cố phía trước cabin xe, Xít bốc những thùng các tông đựng thuốc lá còn lại xếp đầy khoang gia cố. Bốc hàng xong, N lái xe ô tô vào thành phố Huế. Khi xe đến Trạm Cảnh sát giao thông Hải Lăng thì bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe để khám phương tiện theo thủ tục hành chính. Kết quả phát hiện trên xe ô tô biển kiểm soát 29C- 94.776 có vận chuyển 20.000 (hai mươi nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD không có nguồn gốc hợp pháp.

Tại Bản kết luận giám định số 691/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: “20.000 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD, loại 20 điếu/bao gửi đến giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD, được sản xuất tại nước ngoài” .

Cáo trạng số 05/CT-VKS-P1 ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Đoàn Phương N; về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Phương N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Phương N từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và các khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị xử lý như sau:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 18.000 bao thuốc lá, nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD cùng 40 thùng giấy các tông;

- 40 bao gai màu xanh;

- 130 thùng nhựa các loại;

- 50 thùng xốp các loại;

2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 xe ô tô mang biểm kiếm soát 29C-947.76, kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 379893, tên chủ xe Nguyễn Thị Thu Hà, biển số đăng ký 29C-947.76, do Công an Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/3/2017 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 228967, biển đăng ký 29C-947.76, cấp ngày 04/3/2020.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, thể hiện: Ngày 31/8/2020, Đoàn Phương N biết thuốc lá điếu mà một người tên Hương thuê N vận chuyển là hàng cấm. Vì thấy bà Hương trả tiền công lái xe cao nên bị cáo N đã đồng ý. N đã điều khiển xe ô tô BKS 29C- 94.776 chở 20.000 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD xuất phát từ thị xã Quảng Trị để vào thành phố Huế, khi đến huyện Hải Lăng thì bị cơ quan chức phát hiện bắt quả tang. Kết quả giám định 20.000 (hai mươi nghìn) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD được sản xuất tại nước ngoài, không có hóa đơn, chứng từ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Vì vậy, Viển kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Đoàn Phương N, về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, gây ảnh xấu đến tình hình, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc vận chuyển thuốc lá khôngkhông có giấy tờ hợp pháp là trái pháp luật nhưng vì hám lợi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; theo xác nhận của chính quyền địa phương thì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi bố mẹ hay ốm đau nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX cân nhắc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi phạm tội của bị cáo là đơn giản, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình. Tuy nhiên, cần phải phạt bổ sung tương đương 10 lần số tiền mà bị cáo được hứa trả.

Trong vụ án này có người tên Hương, người tên Xít và hai người đàn ông bốc hàng, Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng không có cơ sở để xác định, khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 18.000 gói thuốc lá nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD và 40 thùng các tông;

- 40 bao gai màu xanh;

- 130 thùng nhựa các loại;

- 50 thùng xốp các loại;

Đây là số thuốc lá còn lại sau giám định và các bao bì niêm phong và các tài sản không có giá trị và giá trị thấp nên cần tịch thu tiêu hủy.

* Tịch thu sung công:

- Xe ô tô mang biểm kiếm soát 29C-947.76, kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật;

- Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mà bị cáo sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Các tài sản trên là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Bị cáo Đoàn Phương N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đoàn Phương N 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đoàn Phương N cho Ủy ban nhân dân xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Phương N số tiền 15.000.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy, gồm:

- 40 thùng giấy các tông niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị. Theo kết luận giám định số: 691/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2020 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, trong mỗi thùng giấy có 45 hộp, mỗi hộp chứa 10 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD, loại 20 điếu/bao. Tổng cộng trong 40 thùng các tông có 18.000 (mười lám nghìn) bao thuốc lá, nhãn hiệu BLEND.NO.555 GOLD loại 20 điếu/bao.

- 40 bao gai màu xanh.

- 130 thùng nhựa các loại;

- 50 thùng xốp các loại;

3.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 xe ô tô mang biểm kiếm soát 29C-947.76, nhãn hiệu KIA, loại xe tải thùng, sơn màu trắng, đã qua sử dụng; số khung: KNCWE61124K042899; số máy: SH065132, xe đã qua sử dụng, kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 379893, tên chủ xe Nguyễn Thị Thu Hà, biển số đăng ký 29C-947.76, do Công an Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/3/2017 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 228967, biển đăng ký 29C-947.76, cấp ngày 04/3/2020.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, model: A1549, số imei: 352065063938630, bên trong có sim điện thoại có số seri: 8984048000031942427, máy đã qua sử dụng.

Hiện các vật chứng trên có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2021, giữa Cơ quan điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

4. Về án phí: Bị cáo Đoàn Phương N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ