vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 12/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Quang M 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quang M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 47c Bộ luật Hình sự; Điều 6 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÌNH LẬP
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày 12-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Chung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bế Thị Thúy

Ông Vi Văn Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Quang M, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1992, tại xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn T1, xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Dương Văn V, sinh năm 1967 và bà Lý Thị L, sinh năm 1968; vợ Lý Kim N, sinh năm 1993 và có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/12/2014 bị Công an huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi gây rối trật tự công cộng đã chấp hành xong từ ngày 09/02/2015 được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 14/12/2020 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Chu Thị S, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn H1, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người làm chứng:

1. A Lâm Quang H2, sinh năm 1987, vắng mặt.

2. A Nguyễn Đức A, sinh năm 1987, vắng mặt.

3. A Đỗ Thế C1 (Đỗ Cao C1), sinh năm 1985, vắng mặt.

4. A Hà Phi H3, sinh năm 2000, vắng mặt.

5. A Vi Văn T2, sinh năm 1977, có mặt.

6. Chị Lý Kim N, sinh năm 1993, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 đêm 14/10/2020 Dương Quang M đang ở nhà vợ thuộc thôn H1, xã C, huyện Đình Lập, thấy trời có mưa nhỏ biết cây Ch hoa vàng trồng trước cửa nhà bà Chu Thị S cùng thôn H1, xã C, huyện Đình Lập không có người trông coi nên Dương Quang M lấy một con dao bằng kim loại, loại dao b u có chiều dài khoảng 50cm, cán dao dài 10cm, lư i dao rộng 07cm, loại dao một lư i có m i nhọn, một đoạn ống kim loại dài 02m, đường k nh 2, cm và một tấm lưới nhựa màu đen, k ch thước 3,4m x 4m với ý định d ng dao để đào đất, đào xong lấy tấm lưới nhựa màu đen cuốn uA cây để dễ vận chuyển và d ng đoạn ống kim loại để khiêng cây đi. Dương Quang M một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F9-2213 đi theo Quốc lộ 4B hướng Đình Lập - Quảng Ninh, đến khu vực trước c a nhà bà Chu Thị S.

Khi đến nhà bà Chu Thị S, Dương Quang M để xe mô tô ở cạnh đường, c m dao, đoạn ống kim loại và tấm lưới nhựa màu đen đi bộ vào vị tr trồng cây Ch hoa vàng, Dương Quang M d ng tay phải c m dao đào đất, tay trái bới đất xung quA gốc cây đường k nh 0cm, rộng 20cm, sâu 40cm, Dương Quang M đào đất đến khoảng 01 giờ ngày 1 /10/2020 thì xong, do uen biết với Lâm Quang H2 từ trước và biết Lâm Quang H2 có xe ô tô bán tải chở được cây nên Dương Quang M gọi điện thoại cho Lâm Quang H2 nhờ đến chở cây về nhà. Khi Dương Quang M gọi điện cho Lâm Quang H2, Lâm Quang H2 đang ở nhà c a Vi Công S1, sinh ngày 05/6/19 , trú tại thôn B, xã B1, huyện Đ nên không có xe để chở cây, Lâm Quang H2 gọi điện cho Nguyễn Đức A, bảo Nguyễn Đức A lấy xe ô tô bán tải cho Lâm Quang H2 đi chở cây thì Nguyễn Đức A đồng ý, sau đó Nguyễn Đức A điều khiển xe ô tô bán tải biển kiểm soát 14C - 193.46 c a Nguyễn Đức A từ nhà đi đến nhà Vi Công S1 khi đi Nguyễn Đức A r Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 đang ở c ng nhà với Nguyễn Đức A c ng đi, Nguyễn Đức A điều khiển xe ô tô chở Đỗ Thế Cường và Hà Phi H3 đi đến nhà anh Vi Công S1 thì dừng xe ô tô lại đ i cho Lâm Quang H2 điều khiển xe ô tô chở Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 c ng đi chở cây cho Dương Quang M. Sau đó Lâm Quang H2 điều khiển xe ô tô đi theo Quốc lộ 4B hướng Quảng Ninh - Lạng Sơn đến thôn H1, xã C, huyện Đ, Dương Quang M đang ngồi đợi thì nhìn thấy xe ô tô bán tải màu trắng đi ua biết xe c a Lâm Quang H2 nên Dương Quang M lấy điện thoại gọi cho Lâm Quang H2 bảo uay đ u xe ô tô lại, Lâm Quang H2 điều khiển xe ô tô đi ua vị tr Dương Quang M khoảng 100m thì dừng lại quay đ u xe ô tô đi đến chỗ Dương Quang M, thấy Dương Quang M đứng cạnh đường đợi, Lâm Quang H2 dừng xe và bảo Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 xuống hộ Dương Quang M bê cây lên xe, sau đó Dương Quang M, Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 đi bộ đến vị tr cây Ch hoa vàng để bê cây lên xe ô tô, Dương Quang M đi trước Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 đi sau, khi vừa đến vị tr cây Ch hoa vàng Dương Quang M, Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 đứng xung uanh gốc cây, Dương Quang M d ng hai tay nắm vào gốc cây, kéo cây Ch lên, thì bị ông Vi Văn T2 là em chồng c a bà Chu Thị S phát hiện tri hô thấy vậy Dương Quang M thả tay bỏ cây xuống đất và d ng tay phải nhặt con dao để dưới đất lên c ng Đỗ Thế C1 và Hà Phi H3 bỏ chạy ra hướng Quốc lộ 4B, cách vị tr cây Ch hoa vàng khoảng 03m, Dương Quang M d ng tay phải vứt con dao lên sườn đồi bên tay phải theo hướng Dương Quang M bỏ chạy, thấy có người dân hô hoán thì Lâm Quang H2 c ng điều khiển xe ô tô đi về hướng Quảng Ninh. Dương Quang M chạy đến lấy xe mô tô biển kiểm soát 12F9-2213 và điều khiển xe mô tô chạy về hướng Quảng Ninh, H3 chạy thoát còn Đỗ Thế C1 chạy lên trốn ở bụi cây cách vị tr cây ch khoảng 20m sau đó bị người dân phát hiện và giữ lại đưa đến Công an xã C để làm việc.

Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu M , màn hình điện thoại màu trắng, lưng điện thoại màu đen số ME 1: 6 49 03332 46, số ME 2: 6 49 03332 3, điện thoại c đã ua sử dụng, màn hình cảm ứng có nhiều vết nứt v , bên trong điện thoại có 01 (một th sim V NAPH NE, số seri 89840200011181 9 2 số thuê bao: 0949930662; 01 (một tấm lưới nhựa màu đen, k ch thước 3,4m x 4m; 01 (một đoạn ống kim loại, dài 2m, đường k nh ống 2,5cm; 01 (một xe môtô BKS: 14P4 – 9224, nhãn hiệu YAMAHA số loại S R US, màu sơn: Đen - Đỏ, Số máy: 1S93 - 000366, Số khung: RLCE1S9306Y000366, xe c đã ua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 24/KL-HĐĐ TS ngày 0 /12/2020 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đình Lập kết luận 01 (một cây Ch hoa vàng cao 360cm, chu vi gốc 30cm, cây có 0 nhánh, tán cây rộng 300cm, được trồng vào khoảng năm 200 có giá trị 1 .000.000đ (mười tám triệu đồng).

Tại Cơ uan điều tra, Dương Quang M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-ĐL ngày 02/02/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Dương Quang M, về tội Trộm cắp tài sản, uy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quang M thừa nhận hành vi phạm tội c a mình như cáo trạng đã truy tố.

Bị hại Chu Thị S xác nhận ngày 15/10/2020, cây Ch hoa vàng bị Dương Quang M đào trộm chưa rời khỏi vị tr ban đ u, sau khi phát hiện bị đào trộm gia đình đã trồng lại, hiện nay vẫn chưa thấy mọc lá; ngày 1 /11/2020 bị cáo Dương Quang M đã đến nhà bà thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 2 .000.000đồng, bà đã nhận tiền đ y đ , nay không có yêu c u gì thêm về bồi thường thiệt hại. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dương Văn M.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa H2 tại các biên bản lấy lời khai những người làm chứng đều khai ph hợp với lời khai c a bị cáo, bị hại tại phiên tòa. anh Vi Văn T2 và chị Lý Kim N đều trình bày ph hợp với lời khai tại cơ uan điều tra và ph hợp với lời khai c a bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 1; các Điều, 50, khoản 3 Điều và Điều 6 c a Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quang M từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách c ng đ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y trong việc giám giám sát, giáo dục bị cáo. Không áp dụng hình phạt b sung, vì ua xác minh bị cáo Dương Quang M không có tài sản riêng, không có công việc và thu nhập n định. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại không có yêu c u bồi thường thêm, đề nghị không xem xét giải uyết. Xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 (một điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu M , màn hình điện thoại màu trắng, lưng điện thoại màu đen số ME 1: 6 49 03332 46, số ME 2: 6 49 03332 3, điện thoại c đã ua sử dụng, màn hình cảm ứng có nhiều vết nứt v , bên trong điện thoại có 01 (một th sim V NAPH NE, số seri 89840200011181 9 2 số thuê bao: 0949930662. Tịch thu tiêu h y 01 (một đoạn ống kim loại, dài 2m, đường k nh ống 2,5cm; 01 (một tấm lưới nhựa màu đen, k ch thước 3,4m x 4m. Không có căn cứ xác định chiếc xe mô tô BKS 14P4-9224 liên uan đến vụ án, nên Cơ uan Cảnh sát điều tra đã tách chiếc xe mô tô BKS 14P4-9224 để tiếp tục xử lý, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án.

Bị cáo, bị hại không ai có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Lời nói sau c ng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên trong uá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo uy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong uá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, uyết định tố tụng c a người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Dương Quang M đã khai nhận hành vi phạm tội c a mình, lời khai c a bị cáo ph hợp với biên bản xác định hiện trường, ph hợp với lời khai c a bị hại, những người làm chứng; ph hợp với vật chứng thu giữ, kết luận c a Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 1 tháng 10 năm 2020, Dương Quang M có hành vi lén lút trộm cắp cây Ch hoa vàng c a bị hại Chu Thị S tại thôn H1, xã C, huyện Đ, đã đào xong xung uanh gốc nhưng chưa kịp di chuyển cây đi chỗ khác thị bị bắt uả tang, kết uả định giá cây Chè bị đào trộm có giá trị 1 .000.000đ (mười tám triệu đồng . Hành vi c a bị cáo đã đ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất phát triển bình thường, có đ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản người khác. Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã thực hiện.

Về nhân thân: Ngày 23/12/2014 bị Công an huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi gây rối trật tự công cộng đã chấp hành xong từ ngày 09/02/2015, nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành ch nh và thuộc trường hợp có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp t nghiêm trọng; trong uá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại 2 .000.000đồng để khắc phục hậu uả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 1 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng khoản 3 Điều c a Bộ luật Hình sự khi uyết định hình phạt.

Về hình phạt, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ uy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ uy định tại khoản 2 Điều 1 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; ngoài l n phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành chính sách pháp luật; có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không c n cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách c ng đ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Không áp dụng hình phạt b sung, vì qua xác minh bị cáo Dương Quang M không có tài sản riêng, không có công việc và thu nhập n định để đảm bảo thi hành án.

Đối với Lâm Quang H2 được Dương Quang M nhờ đi hộ chở cây chè hoa vàng, nhưng không biết là cây do Dương Quang M trộm cắp nên không có căn cứ xử lý đối với Lâm Quang H2.

Đối với Nguyễn Đức A là ch sở hữu chiếc xe ô tô BKS 14C-139.46, không biết Lâm Quang H2 mượn xe đi để chở cây Chè hoa vàng do Dương Quang M trộm cắp, nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Đức A.

Đố với Đỗ Thế C1, Hà Phi H3 được Nguyễn Đức A nhờ đi hộ khiêng cây lên xe, không biết Dương Quang M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Đối với con dao bằng kim loại, loại dao b u có chiều dài khoảng 0cm, cán dao dài 10cm, lư i dao rộng 07cm, loại dao một lư i có m i nhọn Dương Quang M d ng để sử dụng đào đất, khi bị phát hiện Dương Quang M bỏ chạy và vứt con dao đi. Cơ uan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy nên không xem xét xử lý trong vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 14P4-9224, phát hiện để cạnh đường Quốc lộ 4B g n vị tr cây ch hoa vàng, những người liên uan đến vụ án khai không được sử dụng chiếc xe mô tô có đặc điểm trên. Quá trình điều tra xác định ch sở hữu chiếc xe là ông V Đức T2, sinh năm 19 , trú tại t , khu V1, phường M1, thị xã Đ1, tỉnh Quảng Ninh, ua xác minh hiện ông V Đức T2 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Không có căn cứ xác định chiếc xe mô tô nói trên liên uan đến vụ án. Cơ uan Cảnh sát điều tra đã tách chiếc xe mô tô BKS 14P4-9224 để tiếp tục xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án.

Về bồi thường thiệt hại: Ngày 1 /11/2020 bị cáo Dương Quang M đã đến nhà bà Chu Thị S thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 2 .000.000đồng, bà Chu Thị S đã nhận tiền đ y đ , nay không có yêu c u gì thêm về bồi thường thiệt hại về dân sự nên Tòa án chỉ c n xác nhận bị cáo với bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu M , màn hình điện thoại màu trắng, lưng điện thoại màu đen số IME 1: 6 49 03332 46, số ME 2: 6 49 03332 3, điện thoại c đã ua sử dụng, màn hình cảm ứng có nhiều vết nứt v , bên trong điện thoại có 01 (một th sim V NAPH NE, số seri 89840200011181 9 2 số thuê bao: 0949930662, là điện thoại thu giữ c a bị cáo khi tiến hành bắt bị cáo để tạm giam, không liên quan đến việc phạm tội c n trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một tấm lưới nhựa màu đen, k ch thước 3,4m x 4m ; 01 (một đoạn ống kim loại, dài 2m, đường k nh ống 2,5cm đều là công cụ phạm tội không có giá trị, c n tịch thu tiêu h y.

Xét đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát về tội danh, t nh chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và về mức hình phạt và các nội dung khác áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo uy định tại tại khoản 2 điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, bị hại có uyền kháng cáo bản án theo ui định tại Điều 331, 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các Điều 15, 50 và khoản 3 Điều ; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 1; Điều 6 và khoản 1 Điều 47c a Bộ luật Hình sự. Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 13 , khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 uy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Quang M 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y trong việc giám giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo uy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo Dương Quang M.

Trả tự do cho bị cáo Dương Quang M tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về tội phạm khác. Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ có trách nhiệm thi hành ngay việc trả tự do cho bị cáo Dương Quang M.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Chu Thị S số tiền 2 .000.000đồng (hai mươi năm triệu đồng , bị hại không yêu c u bồi thường thêm.

4. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Dương Quang M 01 (một điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu M , màn hình điện thoại màu trắng, lưng điện thoại màu đen số IMEI1: 86749503332 46, số ME 2: 6 49 03332 3, điện thoại c đã ua sử dụng, màn hình cảm ứng có nhiều vết nứt v , bên trong điện thoại có 01 (một th sim V NAPH NE, số seri 89840200011181 9 2 số thuê bao: 0949930662;

Tịch thu tiêu h y 01 (một tấm lưới nhựa màu đen, k ch thước 3,4m x 4m ; 01 (một đoạn ống kim loại, dài 2m, đường k nh ống 2,5cm.

(Vật chứng này theo biên bản giao nhận ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đình Lập với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn).

5. Về án ph : Bị cáo Dương Quang M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng án ph hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

6. Về uyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có uyền kháng cáo bản án trong thời hạn 1 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ