- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày 15 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Nương
+ Bà Đinh Thị Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình và bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
- Đào Ngọc Q, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1987; tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: KDC2, thôn Phú T, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/7/2018 bị TAND huyện Trà Bồng Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (ngày 27/5/2020 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc), ngày 16/6/2021 bị CA huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự ở nhà văn hóa và sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 61/QĐ-XPHC ngày 16/6/2021); nhân thân: Ngày 26/8/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng tuyên phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; ngày 23/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh tuyên phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 15/7/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tuyên phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích - Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án của TAND huyện Sơn Tịnh - Tổng cộng bị cáo phải chấp hành là 48 tháng tù; ngày 07/3/2016, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, gây mất trật tự nơi công cộng; ngày 27/11/2017, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác; ngày 13/12/2017, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; ngày 01/3/2018, bị Ủy ban nhân dân xã Trà P quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 05 tháng; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/8/2021, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Vợ chồng ông Châu Đình T, sinh năm 1956 và bà Lê Thị P, sinh năm 1963. Địa chỉ: KDC1, thôn Phú T, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (ông T có mặt, bà P vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn Đông B, xã Bình C, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Hà Văn T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Phú T, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn H T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu dân cư 4, thôn Phú H, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Bà Đặng Thị Th, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khu dân cư 2, thôn Phú A, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Anh Trần Đặng K, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu dân cư 2, thôn Phú A, xã Trà P, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 24/8/2021 Đào Ngọc Q có nhờ Nguyễn Hữu Tứ điều khiển xe mô tô chở Q về nhà, nhưng khi chở Q đến nhà thì Q không vào nhà mà nói với Tứ chở lên nhà ông Châu Đình T để mượn xe của Châu Đình Tùng (Tùng là con ruột của ông T, đang sinh sống và làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh, hiện không có mặt tại địa phương). Tứ đồng ý và chở Q lên nhà ông T. Khi lên đến ngã ba phía trước nhà ông T thì Q xuống khỏi xe, đi bộ qua bên kia đường và đi hướng vào trong sân nhà ông T. Đến khoảng 22 giờ 15 phút, Q vào trong sân nhà ông T, Q quan sát các cửa đều đóng, thấy không có ai, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên Q nhanh chóng lén lút dắt bộ 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 76M4 - 3922 nhãn hiệu SUPERHALIM, loại C100, màu sơn nâu ra đến đường Quốc lộ 24C trước nhà ông T (xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của ông T và vợ là bà Lê Thị P, xe này vợ chồng ông T, bà P được bà Lê Thị Kim L tặng cho từ năm 2016). Sau đó, Q đạp vào chân đề để nổ máy xe nhưng máy không nổ, Q dắt xe đi lên theo hướng từ Đông sang Tây khoảng 05 m thì tiếp tục đạp vào chân đề và khởi động được xe. Lúc này Tứ đứng ở ngoài thấy Q dắt xe ra và đạp nổ máy xe, giữa Tứ và Q không nói gì thì Tứ điều khiển xe đi về nhà, còn Q điều khiển xe một mình đi lên hướng UBND xã Trà P, huyện Trà Bồng. Khi điều khiển xe một mình đi lên hướng UBND xã Trà Phú, huyện Trà Bồng thì Q điều khiển xe đến dừng trước nhà bà Đặng Thị Thơm, Q gọi vào trong nhà bà Thơm để hỏi Trần Đặng Khoa (con ruột bà Thơm), thì bà Thơm nói Khoa không có nhà, nên Q điều khiển xe mô tô trên đi về hướng thôn Phú T, xã Trà P, huyện Trà Bồng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút, khi Q đang điều khiển xe mô tô trên đi đến đoạn cầu Bàn Bạc thuộc thôn Phú A, xã Trà P, huyện Trà Bồng thì bị Tổ công tác phòng, chống dịch Covid - 19 xã Trà Phú, huyện Trà Bồng phát hiện đi ngoài đường quá giờ quy định nên yêu cầu Q dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Q không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe mô tô mang biển kiểm soát: 76M4- 3922 nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản tạm giữ xe mô tô trên.
Tại kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS, ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng, kết luận:
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUPERHALIM, số loại C100, màu sơn nâu, biển số kiểm soát: 76M4-3922, số khung KMICT100DIC912059, số máy CT100E1929735, đã qua sử dụng, xe không có hai gương chiếu hậu, không có ốp nhựa đèn chiếu sáng phía trước, không có yếm chắn gió hai bên, bị thiệt hại tại thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản là 2.700.000 đồng.
Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng phát biểu quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Đào Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc Q mức án từ 12 – 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Bồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Ngày 24/8/2021 bị cáo vào sân nhà ông Châu Đình T, bị cáo quan sát thấy không có ai, các cửa đều đóng, bị cáo thấy 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 76M4 - 3922 nhãn hiệu SUPERHALIM, loại C100, màu sơn nâu đang dựng để sát hè trong sân nhà của ông T, bị cáo lén lút dắt bộ xe mô tô trên ra đến đường Quốc lộ 24C trước nhà ông T, sau đó bị cáo đạp vào chân đề nổ máy xe và điều khiển xe rời đi. Chiếc xe mô tô trên được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định giá là 2.700.000 đồng. Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ phạm tội:
Bị cáo Đào Ngọc Q là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây tâm lí hoang mang lo sợ cho người dân.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự. Ngày 23/7/2018 bị TAND huyện Trà Bồng Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (ngày 27/5/2020 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc); Ngày 16/6/2021 bị CA huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự ở nhà văn hóa và sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 61/QĐ-XPHC ngày 16/6/2021).
Ngoài ra, bị cáo đã từng bị kết án (đã được xóa án tích) và bị xử lý vi phạm hành chính (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính), cụ thể:
Ngày 26/8/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng tuyên phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
Ngày 23/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh tuyên phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Ngày 15/7/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tuyên phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án của TAND huyện Sơn Tịnh. Tổng cộng phải chấp hành là 48 tháng tù.
Ngày 07/3/2016, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, gây mất trật tự nơi công cộng, phạt tiền 1.500.000 đồng.
Ngày 27/11/2017, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, phạt tiền 2.500.000 đồng.
Ngày 13/12/2017, bị Công an huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, phạt tiền 2.500.000 đồng.
Ngày 01/3/2018, bị Ủy ban nhân dân xã Trà P quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 05 tháng, kể từ ngày 01/3/2018.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Đào Ngọc Q đã từng bị kết án nhiều lần (đã được xóa án tích) và từng bị xử lý vi phạm hành chính nhiều lần (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính), hiện nay bị cáo vẫn còn 02 tiền sự nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo 18 tháng tù là phù hợp, vừa để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội vừa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với Nguyễn Hữu T: Bị cáo có nhờ Nguyễn Hữu T chở đến nhà ông Châu Đình T, khi bị cáo nhờ Tứ thì có nói với T chở đến nhà ông T để mượn xe, giữa bị cáo và Tứ không có bàn bạc, trao đổi, Tứ cũng không biết việc bị cáo trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Bồng không đặt vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự đối với Tứ là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt vấn đề xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc Q 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 27/8/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt vấn đề xử lý.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đào Ngọc Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp; - VKSND huyện Trà Bồng; - CQĐT CA huyện Trà Bồng; - CQ THAHS CA huyện Trà Bồng; - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Bồng; - Chi cục THADS huyện Trà Bồng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trƣơng Thị Minh Thuận |