vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 04/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Ch 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/9/2020. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Ph 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Chiến và đp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NH DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày: 04/02/2021.

NH DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nH dân: 1. Ông Đặng Thanh Liêm.

2. Ông Trần Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nH dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2020/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2021, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Minh Ch, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; bị cáo có mười A em, bị cáo là người thứ sáu; Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án:

+ Ngày 28/12/2010, bị Tòa án nH dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2009.

+ Ngày 03/3/2011, bị Tòa án nH dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2009. Tổng hợp bản án của Tòa án nH dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp buộc bị cáo Ch chấp hành hình phạt chung là 11 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 20/4/2020 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Viết Ph, sinh năm 1987. Nơi cư trú: khóm Phó Quế, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Ph (chết) và bà Ngô Thị Hồng L, sinh năm 1940; bị cáo có ba A em, bị cáo là người thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm 1993 và có một con sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1/ Ông Ngô Trọng L, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Bà Trịnh Ngọc Thùy Tr, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3/ Ngô Minh Nh, sinh năm 2005. Nơi cư trú: ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người giám hộ cho Ngô Minh Nh: Ông Ngô Trọng L, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp Đông Sơn 1, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Thị V A, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp Đông Sơn 1, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

1/ Ông Huỳnh Văn Ch, sinh năm 1968. Nơi cư trú: ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ A Lê Văn T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3/ A Lê Văn T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Ngô Minh Nh: Ông Hà Quang V - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, bị cáo Nguyễn Minh Ch điều khiển xe mô tô biển số 67M1-393.22 chở bị cáo Nguyễn Viết Ph từ thành phố Long Xuyên về huyện Thoại Sơn, trên đường đi Ch rủ Ph tìm tài sản lấy trộm thì Ph đồng ý. Khi đi qua tiệm chụp ảnh, áo cưới “Ngở” của A Ngô Trọng L, tại ấp ThA Niên, thị trấn Phú Hòa, Ch phát hiện tiệm A L còn mở cửa sổ, loại không có khung kim loại bên trong nên Ch điều khiển xe quay lại, cách cửa sổ khoảng 7m để Ph bên ngoài cảnh giới, còn Ch leo qua cửa sổ vào trong phòng khách kéo ngăn tủ lấy xấp tiền 6.444.000 đồng, tiếp theo đó Ch vào phòng ngủ của vợ chồng A L, chị Tr lấy 02 điện thoại di động hiệu Iphone X, hiệu Iphone XS max đang ghim sạc, Ch tiếp tục lục tìm ngăn kéo bàn Tr điểm của chị Tr lấy 01 ví da hiệu Vascara và 01 điện thoại Samsung galaxy J6 của Ngô Minh Nh thì bị L phát hiện truy hô nên Ch thoát ra bằng đường cửa sổ chạy về xe mô tô nơi Ph chờ sẵn nổ máy chạy đi. Lúc này, A Huỳnh Văn Ch nghe tiếng truy hô trộm nên chạy ra chặn đầu xe thì Ch dọa dùng dao đâm nên A Ch không dám đuổi bắt. Ph và Ch chạy thoát đến khu vực ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch bị lực lượng Công an xã Vĩnh Trạch tuần tra phát hiện yêu cầu dừng phương tiện thì Ph điều khiển xe tông thẳng vào lực lượng làm phương tiện ngã ra đường, Ch nhảy xuống kênh Ông Cò trốn và cất giấu điện thoại di động Iphone XS max, Samsung Galaxy J6, cùng số tiền 6.444.000 đồng dưới mé kênh, còn Ph bị lực lượng đưa về trụ sở Công an xã Vĩnh Trạch làm việc. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, A Lê Văn T phát hiện Ch dưới kênh nên trình báo Công an xã Vĩnh Trạch đến đưa Ch về trụ sở làm việc và thu giữ trên người Ch 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô biển số 67M1-393.22; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô

biển số 67M1-393.22 tên Nguyễn Thị Ngọc H;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X, màu trắng, 01 ốp lưng, 01 sim số 0908790333;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS max, màu vàng gold, 01 ốp lưng, 01 sim số 0939878779;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6, màu xA, đã bị

hỏng, 01 ốp lưng;

- 01 điện thoại động hiệu Nokia 3310, màu trắng đen;

- 01 bóp da màu đen, nhãn hiệu Vascara;

- 01 cây dao, loại dao bấm, bằng kim loại màu đỏ đen; 01 cây tua vít, cán bằng nhựa màu đen, được bọc trong một ống kim loại màu trắng;

- Tiền Việt Nam: 6.444.000 đồng và nhiều vật chứng liên quan khác.

Ngày 09/10/2020, Cơ quan điều tra đã trao trả cho A Ngô Trọng L, chị Trịnh Ngọc Thùy Tr, Ngô Minh Nh 01 cái bóp (ví) da, nhãn hiệu Vascara; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X; Tiền Việt Nam 6.444.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6. Và chị Nguyễn Thị V A 01 xe mô tô biển số: 67M1 – 393.22, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 67M1 – 393.22.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐGTS ngày 18/9/2020 và số 177/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Thoại Sơn, kết luận:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X, màu trắng 256GB, trị giá 10.800.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS max, màu vàng gold 64GB, trị giá 14.400.000 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6, màu xA, trị giá 1.500.000 đồng;

- 01 ốp lưng bằng nhựa của Iphone X, trị giá 21.000 đồng;

- 01 ốp lưng bằng nhựa của Iphone XS max, trị giá 21.000 đồng;

- 01 ốp lưng bằng nhựa màu hồng của của điện thoại J6, trị giá 36.000 đồng;

- 01 sim số điện thoại 0908790333, trị giá 70.000 đồng;

- 01 sim số điện thoại 0939878779, trị giá 70.000 đồng;

- 01 cái bóp (ví) da màu đen, nhãn hiệu Vascara trị giá 350.000 đồng.

- 02 nhẫn bạch kim trọng lượng 10gam, trị giá 13.000.000 đồng;

- 01 vòng vàng trắng trọng lượng 01 chỉ, trị giá 700.000 đồng;

- 01 lắc vàng trắng trọng lượng 01 chỉ, trị giá 700.000 đồng;

- 01 mặt dây chuyền vàng trắng trọng lượng 01 chỉ, trị giá 700.000 đồng;

Tổng cộng tài sản định giá có giá trị là: 42.018.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSTS ngày 29/12/2020 của Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Viết Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại A Ngô Trọng L, chị Trịnh Ngọc Thùy Tr và em Ngô Minh Nh trình bày việc bị mất tài sản như nội dung vụ án đã nêu. A L, chị Tr và em Nh đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, chị Tr còn trình bày ngoài những tài sản bị mất trộm như bị can đã khai, chị còn bị mất 02 nhẫn bạch kim, 01 vòng vàng trắng, 01 lắc vàng trắng, 01 mặt dây chuyền vàng trắng. Tuy nhiên, chị không yêu cầu các bị cáo bồi thường những tài sản này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ngọc H, chị Nguyễn Thị V A trình bày: Chị H là em ruột của chị V A. Xe mô tô biển số 67M1-393.22 do H mua và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, H cho V A xe mô tô biển số 67M1-393.22 để làm phương tiện đi lại. Khoảng 19 giờ ngày 03/09/2020, V A cho Ch mượn xe mô tô biển số 67M1-393.22 đi thành phố Long Xuyên lấy thuốc, việc Ch sử dụng xe trên đi trộm thì V A không biết. Nay V A đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nH tH bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Ch mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Ph mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét.

Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho bị hại Ngô Minh Nh: thống nhất tội dA, Điều khoản Cáo trạng truy tố và thống nhất quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Tuy nhiên cần xem xét thêm các tình tiết như bị cáo Ch là người đã trưởng thành nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản tH mà thường xuyên đi trộm cắp tài sản người khác để tiêu xài cá nH; bị cáo Ch và bị cáo Ph có ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại nên cả hai cùng bàn bạc thực hiện, trong đó bị cáo Ch là người rủ rê, lôi kéo bị cáo Ph thực hiện tội phạm và quyết tâm thực hiện đến cùng; sau khi bị phát hiện các bị cáo có thái độ chống trả lại; do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hai bị cáo để gíáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án này còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các biên bản hoạt động tố tụng; ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph lén lút vào tiệm chụp ảnh, áo cưới “Ngở” của A Ngô Trọng L lấy trộm của A Ngô Trọng L, chị Trịnh Ngọc Thùy Tr và em Ngô Minh Nh 03 điện thoại di động, 01 ví da, tổng giá trị là 27.268.000 đồng và số tiền 6.444.000 đồng. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 33.712.000 đồng. Bị cáo Ch phạm tội thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiêp.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Ch đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi phạm tội Nguyễn Viết Ph đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn đã truy tố các bị cáo về tội dA, Điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Xét thấy, các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản tH, giúp ích cho gia đình và xã hội, ngược lại do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải đổ mồ hôi công sức nên dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Các bị cáo biết hành vi Trộm cắp tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện các bị cáo là người xem thường pháp luật. Do đó buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình đã gây ra.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nH dân vì phải thường xuyên đề cao cảnh giác.

Trong vụ án này có thể hiện vai trò đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, qua diễn biến vụ án cho thấy bị cáo Nguyễn Minh Ch là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo bị cáo Ph cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; khi bị phát hiện, bị cáo Ch phản ứng quyết liệt bằng cách dùng dao dọa chém người đuổi theo. Bị cáo có nH tH xấu, nhiều lần đi lấy trộm tài sản người khác làm nguồn sống Ch, do vậy khi lượng hình bị cáo Ch phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Ph; đối với bị cáo Ph, mặc dù được bị cáo Ch rủ rê lôi kéo nhưng bị cáo đồng ý Ny và giúp sức cho bị cáo Ch tích cực, tuy nhiên do bị cáo Ph bị truy tố khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nên về trách nhiệm hình sự bị cáo Ph phải nhẹ hơn bị cáo Ch.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Ch đã bị Tòa án nH dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình có xem xét cho các bị cáo một số tình tiết như các bị cáo xuất tH từ thành phần lao động, học vấn thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, sau khi vụ án xảy ra, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thật thà khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được các vật chứng sau:

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 3310, màu trắng đen;

- 01 cây dao, loại dao bấm, bằng kim loại màu đỏ đen;

- 01 cây tua vít, cán bằng nhựa màu đen, được bọc trong 01 ống kim loại màu trắng.

Các vật chứng này cần pH hóa ra để xử lý như sau:

Đối với:

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 3310, màu trắng đen là của bị cáo Ch, tại tòa bị cáo khai không có nhu cầu nhận lại điện thoại này, do vậy cẩn tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước

- Đối với 01 cây dao, loại dao bấm, bằng kim loại màu đỏ đen bị cáo đem theo để phòng tH và dùng để dọa người rượt đuổi và 01 cây tua vít, cán bằng nhựa màu đen, được bọc trong 01 ống kim loại màu trắng bị cáo dùng làm công cụ đột nhập vào nhà bị hại nên cần tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này, chị Trịnh Ngọc Thùy Tr khai còn bị mất 02 nhẫn bạch kim, 01 vòng vàng trắng, 01 lắc vàng trắng, 01 mặt dây chuyền vàng trắng nhưng Ch và Ph không thừa nhận việc này. Ngoài lời khai của chị Tr không còn chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự đối với Ch và Ph về số tài sản này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Ch 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/9/2020.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Ph 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/9/2020.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố tịch thu tiêu hủy:

- 01 cây dao, loại dao bấm, bằng kim loại màu đỏ đen;

- 01 cây tua vít, cán bằng nhựa màu đen, được bọc trong 01 ống kim loại màu trắng.

- Tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 3310, màu trắng đen

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 03/QĐ-VKSTS ngày 29/12/2020 của Viện kiểm sát nH dân huyện Thoại Sơn).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

- Buộc các bị cáo Nguyễn Minh Ch, Nguyễn Viết Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ