- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Nhựt Q 04 (bốn) tháng tù.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày: 17/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Dương.
Ông Đỗ Trọng Nghĩa.
- Thư"ký"phiên"tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thư ký củaTòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
- Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Ngọc"Hiển"tham"gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số: 10/2021/ QĐXXST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Nhựt Q, sinh ngày 01/01/1997 tại: Cà Mau; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân D và bà Trương Ngọc N; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2020 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Lê Tấn Đ, sinh năm 1992 (có mặt).
Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ, ngày 27/11/2020, bị cáo Đặng Nhựt Q đi bộ từ nhà ở ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau đến nhà chị Nguyễn Tú Q là bạn gái của Q để chơi, khi đi ngang nhà bà Nguyễn Thị Út N thuộc khóm 7, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau thì Q đi vào nhà bà Út N từ cửa sau để kiếm anh Lê Tấn Đ nói chuyện thì phát hiện anh Đ nằm ngủ một mình trên giường, bên cạnh có để 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71, màu đen, Q quan sát xung quanh không có ai, nên đã lấy trộm chiếc điện thoại di động của anh Đ. Sau đó Q đem điện thoại vừa trộm được đến cửa hàng điện thoại di động Quốc Khánh ở khóm 8, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau chạy chương trình lại. Tại đây, Q gặp ông Phan Văn H là chủ cửa hàng, Q nói nhập sai mật khẩu đã bị khóa máy, kêu ông H chạy chương trình lại, ông H nói giá chạy chương trình lại là 750.000 đồng và khoảng 02 ngày mới xong, Q đồng ý. Đến khoảng 11 giờ ngày 30/11/2020 Q đến cửa hàng điện thoại di động Quốc K lấy điện thoại di động trên thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Hiển phát hiện, mời Q làm việc và tiến hành lập biên bản tạm giữ điện thoại di động trên. Qua làm việc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá số: 22/KL-HĐ ngày 02/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ngọc Hiển kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A71, màu đen, màn hình cảm ứng, số Imel 1: 3534081176 98447/01, Imel 2: 353409117698445/01 trị giá là 6.320.000 đồng; 01 (một) ốp lưng điện thoại SAMSUNG GALAXEY A71, màu đen, trên ốp lưng có chữ Lê Điền 0376525969 trị giá 80.000 đồng; 01 (một) sim điện thoại Viettel, trên sim có dãy số: 8984048000 040361240 trị giá 64.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.464.000 đồng.
Tại phiên tòa: Đối với Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 08/02/2021 và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Nhựt Q từ 04 tháng đến 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng: Không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Ý kiến của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Nhựt Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 06 giờ, ngày 27/11/2020 bị cáo Đặng Nhựt Q đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71; 01 (một) ốp lưng điện thoại SAMSUNG GALAXEY A71; 01 (một) sim điện thoại Viettel của anh Lê Tấn Đ, có tổng giá trị là 6.464.000 đồng. Với hành vi nêu trên, bị cáo Đặng Nhựt Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do mình gây ra. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển truy tố bị cáo Đặng Nhựt Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Nhựt Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của anh Lê Tấn Đ được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ tài sản của người khác quản lý không ai có quyền chiếm đoạt một cách trái pháp luật nhưng với bản tính mong muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người quản lý tài sản thì bị cáo trực tiếp thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo cần phải bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đặng Nhựt Q chưa tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Do đó đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đặng Nhựt Q 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đặng Nhựt Q phải chịu 200.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển; - CAND huyện Ngọc Hiển; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Mỹ Phương |