- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 điều 227;khoản 1 điều
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
Số: 06/2021/HNGĐ- Ngày: 12/05/2021 |
T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT THỊ XÃ PHÚ THỌ NAM T NH PHÚ THỌ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ST “V/ xin thay đ i người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T A ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, T NH PHÚ THỌ
- hành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Mai Nhật Đậu 2/. Bà Trần Thị Mai D - hư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2020 về việc “Xin thay đ i người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST- HNGĐ ngày 26/4/2021 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Anh Bùi Đức , sinh năm 1981. (Có mặt ) Trú tại: Xóm 1, T, V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương - Bị đơn: Chị Cao hị D, sinh năm 1988.( Vắng mặt) Trú tại: SN 04, t 45, phố Q, phường A, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. NỘI D VỤ ÁN: Trong đơn khởi kiện, bản tự khai à tại phiên tòa anh Bùi Đức T trình bày: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 04/2016/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ giữa tôi và chị Cao Thị D thì Q nuôi dưỡng con chung của chúng tôi là cháu Bùi Cẩm T, sinh ngày 27/11/2008 do chị Cao Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tôi không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị D. Sau khi ly hôn với tôi, chị Cao Thị D đã kết hôn với người khác và chuyển về sinh sống tại phố Q, phường A, thị xã Phú Thọ nên đã giao cháu Bùi Cẩm T cho ông bà ngoại là Cao
Giang Sơn và Lê Thị Độ ở phố Phú Thịnh, phường Phong Châu, thị xã Phú thọ nuôi dưỡng. Do chị D không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T nên không đảm bảo các điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu.Hơn nữa, hiện nay cháu T đã trên 12 tu i đã có nguyện vọng được ở với tôi.Thực tế tôi đã chuyển cháu T về ở với tôi từ tháng 6/2020 tại V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Hiện nay tôi đã xin cho cháu nhập học tại Lớp 7A, Trường THCS Văn Hội, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Thu nhập của tôi hiện nay là 20.000.000 đồng/ tháng nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ giải quyết cho tôi xin được thay đ i người trực tiếp nuôi con chung từ chị D sang cho tôi. Tôi xin được trực tiếp nuôi cháu Bùi Cẩm T, không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con cùng với tôi. Bị đơn chị Cao Thị D ắng mặt nhưng đã có bản tự khai ngày 07/12/2020 chị trình bày: Chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án số 180/2020 ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ.Theo quyết định số 04/2016 Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự thì chị và anh T đã thuận tình ly hôn .Về con chung: Chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bủi Cẩm T - sinh ngày 27/11/2008 và anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.Kể từ khi được giao nuôi cháu T chị vẫn luôn quan tâm chăm sóc cháu. Mặc dù chị đã có gia đình riêng và 01 con nhỏ 02 tu i nhưng chị vẫn đủ điều kiện để chăm sóc cháu. Anh T không có việc làm và không có thu nhập n định. Do vậy, anh T xin thay đ i người trực tiếp nuôi con là cháu T chị không đồng ý vì chị vẫn đủ điều kiện chăm sóc cháu. NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp Hôn nhân gia đình về việc thay đ i người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và bị đơn chị Cao Thị D hiện đang sinh sống tại phường A, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị Cao Thị D vắng mặt mặc dù đã được tống đạt giấy tờ hợp lệ nên Tòa án không hòa giải được. Do vậy, Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Phiên tòa ngày 26/4/2021, bị đơn chị Cao Thị D đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị D đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là chị Cao Thị D là phù hợp với quy định của pháp luật. [2]. Về nội D ụ án: Xét yêu cầu xin thay đ i người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh Bùi Đức T thì thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án anh T đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đơn đề nghị về nguyện vọng
được ở với bố của cháu T, Hợp đồng lao động,thư gửi công an phường Phong Châu của cháu T, hiện tại anh và cháu T đang ở cùng bố mẹ đẻ anh chỗ ở n định đó là nhà ở và Q sử dụng đất tại V, huyện Ninh Giang,tỉnh Hải Dương mang tên bố mẹ anh là Bùi Đức T và Nguyễn Thị Q, đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị Q.Về công việc,hiện nay anh T đang làm nhân viên kinh doanh cho công ty TNHH Đại Thành GlobalViệt Nam thời gian làm việc 8h/ngày với mức thu nhập n định là 10.000.000đ/ tháng. Về phía chị D sau khi ly hôn chị D đã kết hôn với người khác và đã có một con riêng nên không trực tiếp nuôi cháu T mà giao cho ông bà Ngoại nuôi dưỡng.Vì vậy, anh T đề nghị xin được thay đ i người trực tiếp nuôi cháu T từ chị D sang cho anh, anh không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con.Quan điểm của chị D không đồng ý thay đ i vì chị vẫn đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi con.Tòa án đã yêu cầu chị D cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh về điều kiện nuôi con như mức thu nhập, chỗ ở. Tuy nhiên, chị D không cung cấp cũng không đến tòa án làm việc. Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của anh T và chị D là chính đáng.Tuy nhiên, hiện nay chị D đã xây dựng gia đình riêng, không trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, còn anh T ở một mình chưa xây dựng gia đình mới nên anh có điều kiện về vật chất, thời gian để trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung.Hơn nữa,nguyện vọng của cháu T xin được ở với bố nên anh T đã chuyển cháu T về sinh sống và học tập cùng với anh.Như vậy, Hội đồng xét xử xem xét thấy hiện tại anh T có đủ điều kiện và để đảm bảo cho cháu T có cuộc sống tốt, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, đảm bảo Q lợi về mọi mặt của con chung. Đ nghÞ cña anh Bùi Đức T lµ cã c¬ së phï hîp víi ph¸p luËt vµ ®i u kiÖn thùc tÕ. Do vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Đức T, giao cháu Bùi Cẩm T - Sinh ngày 27/11/ 2008 cho anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T thành niên [5]. Về án phí: Yêu cầu của anh T được chấp nhận nên chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 84 , Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 điều 227;khoản 1 điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1/. Xử: Giao cháu Bùi Cẩm T, sinh ngày 27/11/2008 cho anh Bùi Đức T trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 5/2021 trở đi cho đến khi thành niên,chị Cao Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh T không yêu cầu.Chị Cao Thị D được Q đi lại thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
2/.Về án phí dân sự: Chị Cao Thị D ph¶i chÞu 300.000® ( Ba tr¨m ngh×n ®ång).Hoµn tr¶ l¹i cho anh Bùi Đức T 300.000® (Ba tr¨m ngh×n ®ång) ®· nép t¹i biªn lai thu t¹m øng ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n sè 0002613 ngµy 23/11/2020 t¹i Chi côc Thi hµnh ¸n D©n sù Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh T có mặt được Q kháng cáo, chị D vắng mặt được Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thỏa thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiện thi hánh án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: -VKSND thị xã Phú Thọ; -Chi cục THADS thị xã Phú Thọ; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Trần Thị Ngọc Hà |