- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Lường Thị T; BĐ: Quàng Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 06/2021/HNGD-ST Ngày 14 tháng 4 năm 2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Ngọc Quang
2. Bà: Bùi Thị Việt Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MA tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HN&GĐ ngày 08 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Họ và tên: Lường Thị T; sinh năm: 1985.
- Nơi ĐKHKTT: Bản PL, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên
- Nơi cư trú: Bản K, xã CS, huyện TG, tỉnh Điện Biên. (Có mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Thủy: Bà Lò Thị Khánh H – Trợ giúp viên pháp lý, nơi công tác Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
2. Bị đơn:
- Họ và tên: Quàng Văn H; sinh năm: 1982.
- Nơi cư trú: Bản PL, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 01/01/2021; tại biên bản lấy lời khai của chị T ngày 25/01/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lường Thị T trình bày:
* Về hôn nhân: Tôi (T) và anh Quàng Văn H chung sống với nhau từ năm 2003 đến ngày 13/3/2014 thì có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chúng tôi sống hạnh phúc được 05 năm. Sau đó tôi phát hiện anh H nghiện chất ma túy. Tôi và gia đình hai bên có khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi. Từ tháng 12/2020 đến nay tôi và anh H sống ly thân. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện MA giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Quàng Văn H.
* Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh H có 02 người con chung: Cháu thứ nhất là Quàng Văn T, sinh ngày 13/12/2004; cháu thứ hai là Quàng Thị T, sinh ngày 20/12/2006. Nguyện vọng của tôi là sau khi ly hôn tôi nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu (T + T) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu anh Quàng Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày hôm nay chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quàng Văn H; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và biên bản lấy lơi khai chị đã trình bày.
* Bị đơn: Anh Quàng Văn H mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn vắng mặt.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của hai cháu Quàng Văn T và Quàng Thị T. Nguyện vọng hai cháu là muốn được ở với mẹ.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị T là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T cụ thể như sau:
Thứ nhất về hôn nhân: Chị T và anh H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2014 tại UBND xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được 5 năm, sau đó anh H mắc nghiện chất ma túy. Từ tháng 12/2020 đến nay chị Tvà anh H đã sống ly thân. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T và tuyên bố chị T được ly hôn anh H.
Thứ hai về con chung: Chị T và anh H có hai người con chung: Cháu thứ nhất là Quàng Văn T, sinh ngày 13/12/2004; cháu thứ hai là Quàng Thị T, sinh ngày 20/12/2006. Nguyện vọng của chị Tsau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu (T + T) đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Nguyện vọng của hai cháu T và T muốn được ở với mẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị T và của hai cháu (T + T) về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Thứ ba: Trong quá trình chung sống chị T và anh H không có tài sản chung; Nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có.
Về án phí: Chị T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị T.
* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lường Thị T được ly hôn anh Quàng Văn H.
- Con chung: Giao hai cháu Quàng Văn T, sinh ngày 13/12/2004 và Quàng Thị T, sinh ngày 20/12/2006 cho chị Ttrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Đương sự không yêu cầu.
- Án phí: Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện MA. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Ngày 08/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn là anh Quàng Văn H, anh H không có mặt ở nhà, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2, đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại 02 buổi hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 29/3/2021, Nguyên đơn là chị Lường Thị T có mặt, bị đơn là anh Quàng Văn H vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 14/4/2021.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Lường Thị T (có mặt); Bị đơn là anh Quàng Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh H.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 01/01/2021; biên bản lấy lời khai ngày 25/01/2021 của nguyên đơn là chị Lường Thị T; lời trình bày của chị T tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị T và anh H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2014 tại UBND xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó chị T phát hiện anh H nghiện sử dụng chất ma túy, chị và gia đình hai bên nội ngoại đã khuyên bảo nhưng anh H không nghe, do đó anh chị luôn mâu thẫu với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Từ tháng 12/2020 chị T và anh H đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị T. Tuyên xử cho chị Lường Thị T được ly hôn với anh Quàng Văn H.
* Về con chung: Chị Lường Thị T và anh Quàng Văn H có 02 người con chung: Cháu thứ nhất là Quàng Văn T, sinh ngày 13/12/2004; cháu thứ hai là Quàng Thị T, sinh ngày 20/12/2006.
Chị Tcó nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu (Thương + Thu) đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Nguyện vọng của hai cháu Quàng Văn T và Quàng Thị T muốn được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị Tvề việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Chị T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Thủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị T: Chị Lường Thị T được ly hôn anh Quàng Văn H.
2. Về con chung: Giao hai cháu Quàng Văn T, sinh ngày 13/12/2004 và cháu Quàng Thị T, sinh ngày 20/12/2006 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
Thời điểm giao nuôi hai cháu Quàng Văn T và cháu Quàng Thị T cho chị T kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Anh H có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị T.
5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lường Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/4/2021). Anh Quàng Văn H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện MườngẢng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - UBND xã XL, h.Mường Ảng - Đương sự; - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Phương |