vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn D. [2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 03/8/2018, anh Huỳnh Văn D trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên P, sinh ngày 21/12/2013 không ai phải cấp dưỡng nuôi con do chị N và anh D đều kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huỳnh Như - Huỳnh Văn Dỏn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vi Quốc Thanh

2. Ông Nguyễn Văn Truyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 333/2020/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 09/3/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 31/3/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1988 (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2020 và các lời trình khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn D tự nguyện kết hôn trên cơ sở quen biết, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh B vào ngày 08/02/2012. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì mất hạnh phúc, nguyên nhân là do anh D có quen với người phụ nữ khác không quan tâm chăm sóc chị và con, chị và gia đình hai bên đã khuyên nhiều lần nhưng anh D vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng đã gặp gỡ hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không thành. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Huỳnh Văn D. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Thiên P, sinh ngày 21/12/2013 và Huỳnh Thiên H, sinh ngày 03/8/2018, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu H và anh Dnuôi cháu P, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày tài sản chung, nợ chung không có. Vì bận đi làm nên chị xin vắng mặt trong những lần Tòa án mời.

Bị đơn anh Huỳnh Văn D vắng mặt vào những lần Tòa án mời nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật từ khi thụ lý đến xét xử; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình cụ thể vắng mặt vào các lần Tòa án mời; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N; Về con chung: chị Nguyễn Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 03/8/2018, anh Huỳnh Văn D trực tiếp nuôi Huỳnh Thiên P, sinh ngày 21/12/2013, không ai phải cấp dưỡng nuôi con do cả anh D và chị N đều không có yêu cầu; Tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn Huỳnh Văn D có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh B thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huỳnh N đối với anh Huỳnh Văn D, thấy rằng: Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị N cho rằng khoảng năm 2018 vợ chồng mất hạnh phúc, nguyên nhân là do anh D có quen với người phụ nữ khác không quan tâm chăm sóc chị và con, chị và gia đình hai bên đã khuyên nhiều lần nhưng anh D vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng đã gặp gỡ hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không thành. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Huỳnh Văn D. Phía anh D đã được Tòa án mời nhiều lần tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N nhưng anh không đến. Anh D cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình chứng tỏ anh không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N. Trong khoảng thời gian sống ly thân lẽ ra anh D phải tìm cách khắc phục hạn chế của bản thân vì gia đình mà thay đổi bản thân theo hướng tốt hơn nhưng anh D vẫn không thay đổi và nay chị N vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh. Từ những lập luận trên nghĩ rằng hôn nhân của anh chị xuất phát từ những mâu thuẫn về tình cảm nhưng do bản thân anh D không chung thủy, không quan tâm vợ con, không cố gắng khắc phục hạn chế của bản thân nên đến nay mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ. Về con chung: Anh chị có hai con chung tên Huỳnh Thiên P, sinh ngày 21/12/2013 hiện đang sống chung với ông bà nội và anh D và Huỳnh Thiên H, sinh ngày 03/8/2018 hiện đang sống chung với ông bà ngoại và chị N, chị có nguyện vọng được nuôi cháu H và để cháu P cho anh D nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù anh D không có văn bản thể hiện quan điểm của mình có nguyện vọng nuôi con hay không nhưng từ khi sống ly thân đến nay cháu P vẫn do anh nuôi dưỡng, nay chị N cũng đồng ý để anh D tiếp tục nuôi cháu P là phù hợp và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Phía cháu H hiện đang sống với chị N, để cuộc sống của cháu H không bị xáo trộn khi cha mẹ ly hôn Hội đồng xét xử nghĩ để chị N tiếp tục nuôi cháu H là phù hợp, ghi nhận việc chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi cháu H. Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không đề cập.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn D.

[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 03/8/2018, anh Huỳnh Văn D trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên P, sinh ngày 21/12/2013 không ai phải cấp dưỡng nuôi con do chị N và anh D đều không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003777 ngày 02/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh B nên không còn phải nộp thêm.

[5] Về quyền kháng cáo:Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ