vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P: Cho Chị Lê Thị P được ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Giao cho chị Lê Thị P nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Dương Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh L được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh L thực hiện quyền này. Về án phí: Chị Lê T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ giữa chị Lê Thị P - anh Dương Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P: Cho Chị Lê Thị P được ly hôn với anh Dương Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20-01-2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm.

2. Ông Vũ Ngọc Côn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 397/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1995. Có mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2020 và tại bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị P trình bày:

Chị và anh Dương Văn L kết hôn với nhau vào năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh L làm dâu ngay. Chị và anh L chung sống cùng gia đình anh L tại thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tuổi còn trẻ chưa tìm hiểu nhau kỹ nên trong cuộc sống thường xảy ra cãi vã làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có hạnh phúc. Từ tháng 8 năm 2020 chị và anh L sống ly thân từ đó đến nay, đến nay không còn quan hệ tình cảm gì, không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã một thời gian chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Chị và anh L có một con chung là Dương Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi cháu B, hiện chị đang làm công nhân mức thu nhập hàng tháng 10 triệu đồng/tháng. Chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Dương Văn L vắng mặt không có lý do. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị P, không tham dự phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh L được.

Tại biên bản xác minh bà Ngô Thị D là mẹ đẻ anh L cho biết: Bà có tổ chức cưới hỏi cho anh Dương Văn L và chị Lê Thị P, sau đó anh L chị P chung sống cùng gia đình bà, đến năm 2018 thì vợ chồng anh L chị P phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình, chị P bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, chị P anh L ly thân từ đó đến nay. Anh L vẫn đang ở cùng gia đình bà tại thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang, hiện anh L đi làm ăn, vẫn đi đi về về, vẫn liên lạc về gia đình, bà có giao lại và thông báo cho anh L biết về yêu cầu khởi kiện của chị P và các giấy tờ thông báo Tòa án giao cho anh L. Từ khi anh L chị P sống ly thân với nhau thì chị P là người nuôi con chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị P vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Dương Văn L và đề nghị được nuôi con chung là cháu Dương Gia B. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P: Cho chị Lê Thị P được ly hôn với anh Dương Văn L.

- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị P khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, con chung với anh Dương Văn L; anh L có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị đơn anh Dương Văn L được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác minh tại địa phương và xác nhận của gia đình anh L thì hiện nay anh L vẫn có hộ khẩu và đang cư trú tại thôn Đ, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay anh L đi làm ăn nơi khác, thường đi đi, về về là đúng. Tuy nhiên anh L không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay, không thông báo cho chị P biết. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu giếm địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Dương Văn L.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị P và anh Dương Văn L tự nguyện tìm hiểu và đăng kết hôn với nhau vào ngày 09 tháng 01 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, đến nay không ai còn quan tâm tới ai. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay. Nay chị P làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh L. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P anh L có mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P, cho chị P được ly hôn với anh L là có căn cứ.

. Về con chung: Chị P anh L có 01 con chung là cháu Dương Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Khi ly hôn chị P có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Bảo, Hội đồng xét xử thấy, từ khi ly thân chị P là người nuôi dưỡng con chung, chị P có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung phát triển đảm bảo. Hiện nay con chung phát triển khỏe mạnh. Do vậy cần giao cho chị Lê Thị P nuôi dưỡng cháu B là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Lê Thị P không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị P: Cho Chị Lê Thị P được ly hôn với anh Dương Văn L.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị P nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Dương Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh L được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh L thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị P đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: AA/2019/0001609 ngày 12/10/2020. Khoản tiền này được chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ